Phác đồ GOLP tân bổ trợ trong ung thư đường mật trong gan nguy cơ cao có thể phẫu thuật cắt bỏ
Neoadjuvant GOLP in Resectable High-Risk Intrahepatic Cholangiocarcinoma
Đừng để vàng rơi!
Summary: This phase 2-3 randomised trial evaluated the efficacy and safety of the neoadjuvant GOLP regimen combined with surgery versus surgery alone in patients with resectable high-risk intrahepatic cholangiocarcinoma. At the interim analysis, the neoadjuvant group demonstrated a significantly longer median event-free survival of 18.0 months compared to 8.7 months in the control group. Although the 24-month overall survival rate was higher in the neoadjuvant arm, it did not meet the predefined strict criterion for statistical significance. Adverse events were more frequent in the neoadjuvant group, but they were predominantly low-grade and manageable.
Tóm tắt: Thử nghiệm ngẫu nhiên giai đoạn 2-3 này đã đánh giá hiệu quả và tính an toàn của phác đồ GOLP tân bổ trợ kết hợp phẫu thuật so với phẫu thuật đơn thuần ở bệnh nhân ung thư đường mật trong gan nguy cơ cao có thể phẫu thuật cắt bỏ. Tại thời điểm phân tích giữa kỳ, nhóm tân bổ trợ cho thấy thời gian sống thêm không biến cố trung vị dài hơn đáng kể với 18,0 tháng so với 8,7 tháng ở nhóm chứng. Mặc dù tỷ lệ sống thêm toàn bộ tại thời điểm 24 tháng cao hơn ở nhóm tân bổ trợ, kết quả này không đáp ứng tiêu chuẩn nghiêm ngặt được xác định trước về ý nghĩa thống kê. Các biến cố có hại xuất hiện thường xuyên hơn ở nhóm tân bổ trợ, nhưng chủ yếu ở mức độ nhẹ và có thể kiểm soát được.
Clinical bottom line: Neoadjuvant GOLP therapy significantly extends event-free survival in patients with resectable high-risk intrahepatic cholangiocarcinoma and represents a viable, manageable treatment strategy, despite higher adverse event rates.
Mấu chốt lâm sàng: Liệu pháp GOLP tân bổ trợ giúp kéo dài đáng kể thời gian sống thêm không biến cố ở bệnh nhân ung thư đường mật trong gan nguy cơ cao có thể phẫu thuật cắt bỏ và đại diện cho một chiến lược điều trị khả thi, có thể kiểm soát được, bất chấp tỷ lệ gặp biến cố có hại cao hơn.
Background
Bối cảnh
No neoadjuvant treatment has been considered to be standard therapy for patients with resectable intrahepatic cholangiocarcinoma with high-risk factors for recurrence. The GOLP regimen (gemcitabine-oxaliplatin, lenvatinib, and an anti-programmed death 1 antibody) has shown promising efficacy with a manageable safety profile in advanced intrahepatic cholangiocarcinoma and biliary tract cancer.
Chưa có phương pháp điều trị tân bổ trợ nào được xem là liệu pháp tiêu chuẩn cho bệnh nhân ung thư đường mật trong gan có thể phẫu thuật cắt bỏ nhưng mang các yếu tố nguy cơ tái phát cao. Phác đồ GOLP (gemcitabine-oxaliplatin, lenvatinib, và một kháng thể kháng protein 1 gây chết tế bào có chương trình) đã cho thấy hiệu quả đầy hứa hẹn với đặc tính an toàn có thể kiểm soát được trong ung thư đường mật trong gan và ung thư đường mật tiến triển.
Methods
Phương pháp
In a phase 2-3 trial, we randomly assigned, in a 1:1 ratio, patients with resectable high-risk intrahepatic cholangiocarcinoma to the neoadjuvant group (intravenous gemcitabine-oxaliplatin plus toripalimab every 3 weeks for three cycles and oral lenvatinib once daily for 9 weeks, followed by curative resection) or the control group (curative resection and no neoadjuvant treatment). All patients received adjuvant capecitabine for eight cycles after surgery. The primary end point was event-free survival. Secondary end points included overall survival and safety.
Trong một thử nghiệm giai đoạn 2-3, chúng tôi phân nhóm ngẫu nhiên theo tỷ lệ 1:1 các bệnh nhân ung thư đường mật trong gan nguy cơ cao có thể phẫu thuật vào nhóm tân bổ trợ (truyền tĩnh mạch gemcitabine-oxaliplatin kết hợp toripalimab mỗi 3 tuần trong ba chu kỳ và uống lenvatinib một lần mỗi ngày trong 9 tuần, sau đó phẫu thuật cắt bỏ triệt để) hoặc nhóm chứng (phẫu thuật cắt bỏ triệt để và không điều trị tân bổ trợ). Tất cả bệnh nhân đều nhận capecitabine bổ trợ trong tám chu kỳ sau phẫu thuật. Tiêu chí đánh giá chính là sống thêm không biến cố. Các tiêu chí đánh giá phụ bao gồm sống thêm toàn bộ và tính an toàn.
Results
Kết quả
A total of 178 patients underwent randomization (88 patients to the neoadjuvant group and 90 to the control group). At the interim analysis at a median follow-up of 16.9 months, the median event-free survival was significantly longer in the neoadjuvant group (18.0 months; 95% confidence interval [CI], 13.8 to 27.6) than in the control group (8.7 months; 95% CI, 7.2 to 12.4) (P<0.001). Overall survival at 24 months was 79% (95% CI, 70 to 90) in the neoadjuvant group and 61% (95% CI, 50 to 75) in the control group (hazard ratio for death, 0.43; 95% CI, 0.23 to 0.79; P = 0.005, which did not meet the significance criterion [two-sided alpha, 0.0019]). Across all treatment phases, adverse events occurred in 97% of the patients in the neoadjuvant group and in 70% of those in the control group. During the neoadjuvant phase, adverse events of grade 3 or higher occurred in 28% of the patients, and treatment-related adverse events of grade 3 or higher in 26%. No treatment-related adverse event led to death.
Tổng cộng có 178 bệnh nhân đã trải qua quá trình ngẫu nhiên hóa (88 bệnh nhân vào nhóm tân bổ trợ và 90 bệnh nhân vào nhóm chứng). Tại thời điểm phân tích giữa kỳ với thời gian theo dõi trung vị là 16,9 tháng, thời gian sống thêm không biến cố trung vị ở nhóm tân bổ trợ (18,0 tháng; khoảng tin cậy [KTC] 95%, 13,8 đến 27,6) dài hơn đáng kể so với nhóm chứng (8,7 tháng; KTC 95%, 7,2 đến 12,4) (P<0,001). Tỷ lệ sống thêm toàn bộ tại thời điểm 24 tháng là 79% (KTC 95%, 70 đến 90) ở nhóm tân bổ trợ và 61% (KTC 95%, 50 đến 75) ở nhóm chứng (tỷ số nguy cơ tử vong, 0,43; KTC 95%, 0,23 đến 0,79; P = 0,005, mức này không đáp ứng tiêu chuẩn có ý nghĩa thống kê [alpha hai phía, 0,0019]). Trong tất cả các giai đoạn điều trị, các biến cố có hại xảy ra ở 97% bệnh nhân thuộc nhóm tân bổ trợ và 70% bệnh nhân thuộc nhóm chứng. Trong giai đoạn tân bổ trợ, các biến cố có hại từ độ 3 trở lên xảy ra ở 28% bệnh nhân, và các biến cố có hại liên quan đến điều trị từ độ 3 trở lên xảy ra ở 26%. Không có biến cố có hại nào liên quan đến điều trị dẫn đến tử vong.
Conclusions
Kết luận
Neoadjuvant GOLP led to significantly longer event-free survival than control therapy, with mainly low-grade adverse events, among patients with resectable high-risk intrahepatic cholangiocarcinoma. (Funded by the Clinical Research Plan of Shanghai Hospital Development Center and others; ZSAB-neoGOLP ClinicalTrials.gov number,NCT04669496.).
Phác đồ GOLP tân bổ trợ giúp kéo dài đáng kể thời gian sống thêm không biến cố so với liệu pháp đối chứng, với các biến cố có hại chủ yếu ở mức độ nhẹ, trên các bệnh nhân ung thư đường mật trong gan nguy cơ cao có thể phẫu thuật cắt bỏ. (Được tài trợ bởi Kế hoạch Nghiên cứu Lâm sàng của Trung tâm Phát triển Bệnh viện Thượng Hải và các đơn vị khác; Số ZSAB-neoGOLP trên ClinicalTrials.gov, NCT04669496.).
Có thể bạn quan tâm
-
Thay van động mạch chủ qua ống thông ở bệnh nhân có động mạch vành trái xuất phát bất thường từ xoang vành phải: Báo cáo ca lâm sàng
Transcatheter Aortic Valve Implantation with Anomalous Left Main Origin From Right Coronary Cusp: A Case Report
Raghad Mohammed Altayyar; Faisal Omar Al-Nasser; Mohamed Ajaz Ghani. American Journal of Case Reports. doi: 10.12659/AJCR.948995. Open access.
-
Hoạt động trị liệu cho bệnh xơ cứng rải rác
Occupational therapy for multiple sclerosis
Cochrane Database Syst Rev. 2026 Jan 20;1(1):CD015371. doi: 10.1002/14651858.CD015371.pub2.
-
Dr. ChatGPT đang ngày càng giỏi trong việc chẩn đoán các vấn đề sức khỏe – nhưng các bác sĩ thực thụ vẫn tốt hơn trong việc cân nhắc các phương án điều trị.
Dr. ChatGPT is getting remarkably good at diagnosing health problems – but actual doctors are still better at weighing treatment options