GIỚI THIỆU
Ống thông động mạch (còn gọi là cannula động mạch hoặc A-line) thường được đặt nhằm theo dõi huyết áp (HA) xâm lấn và thiết lập đường vào nội mạch để lấy máu xét nghiệm cho các bệnh nhân phẫu thuật nguy cơ cao và bệnh nhân nặng. Bài viết này tổng quan về kỹ thuật, biến chứng, ưu điểm, các chỉ định của đặt ống thông động mạch, cũng như các nguồn sai số có thể xảy ra trong quá trình theo dõi và phân tích dạng sóng áp lực động mạch. Kỹ thuật đặt ống thông động mạch phổi được thảo luận trong một bài viết riêng biệt. (Xem “Đặt ống thông động mạch phổi: Chỉ định, chống chỉ định và biến chứng ở người lớn”, “Ống thông động mạch phổi: Kỹ thuật đặt ở người lớn” và “Đặt ống thông động mạch phổi: Phân tích giá trị huyết động và dạng sóng ở người lớn”.)
CÔNG DỤNG
Ưu điểm của ống thông động mạch lưu là cho phép tiếp cận liên tục dòng máu động mạch và cập nhật các chỉ số huyết áp. Các chỉ định bao gồm nhu cầu:
- Theo dõi liên tục huyết áp động mạch – Theo dõi HA xâm lấn thường được áp dụng trong thời gian phẫu thuật đối với các ca đại phẫu, bệnh nhân có bệnh lý nền đáng kể, dự kiến khó khăn trong thiết lập đường truyền nội mạch, hoặc đối với bệnh nhân nặng cần chỉnh liều các thuốc vận mạch. (Xem “Theo dõi cơ bản cho bệnh nhân trong gây mê”, mục ‘Theo dõi huyết áp xâm lấn’.)
- Nhận diện các dạng sóng động mạch bất thường – (Xem ‘Phân tích dạng sóng áp lực động mạch’ bên dưới.)
- Đánh giá sự biến thiên hô hấp trên dạng sóng áp lực động mạch để dự đoán đáp ứng bù dịch – Có thể thực hiện ước tính bằng mắt thường hoặc tính toán thủ công độ biến thiên áp lực tâm thu (SPV) hoặc độ biến thiên áp lực mạch (PPV) (hình 1 và hình 2), hoặc sử dụng các thiết bị thương mại có khả năng tự động tính toán SPV, PPV hoặc độ biến thiên thể tích nhát bóp (SVV) (bảng 1). (Xem “Kiểm soát dịch truyền trong phẫu thuật”, mục ‘Các thông số động để đánh giá đáp ứng bù dịch’ và “Các công cụ mới trong theo dõi huyết động cho bệnh nhân nặng bị sốc”, mục ‘Phân tích dạng sóng mạch động mạch’.)
- Lấy máu thường xuyên – Đôi khi, ống thông động mạch được đặt để lấy máu xét nghiệm ngắt quãng, bao gồm các xét nghiệm tại giường (point-of-care) như khí máu động mạch kèm pH, hemoglobin, điện giải, glucose, lactate và các xét nghiệm đông máu 1. Đường vào động mạch đặc biệt hữu ích ở những bệnh nhân không có đường vào nội mạch qua catheter tĩnh mạch trung tâm (CVC). (Xem “Khí máu động mạch” và “Ứng dụng lâm sàng của các xét nghiệm đông máu”, mục ‘Xét nghiệm tại giường’.)
Việc đặt ống thông động mạch thường quy khi không có chỉ định hợp lý là không được khuyến cáo, do nguy cơ xảy ra biến chứng (xem ‘Biến chứng’ bên dưới), đồng thời tình trạng huyết khối hoặc hẹp mạch có thể gây khó khăn cho việc đặt ống thông vào các động mạch này trong tương lai 2.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Có nhiều chống chỉ định đối với việc đặt đường truyền động mạch, bao gồm các chống chỉ định theo vị trí cụ thể và các chống chỉ định chung. Những chống chỉ định này tương tự như các chống chỉ định đối với lấy máu khí máu động mạch và đã được thảo luận riêng biệt. (Xem “Khí máu động mạch”, mục ‘Chỉ định và chống chỉ định’.)
LỰA CHỌN VỊ TRÍ
Bước đầu tiên trong lựa chọn vị trí đặt ống thông là xác định vị trí mạch động mạch có thể bắt được. Các vị trí phổ biến bao gồm động mạch ngoại biên (động mạch quay [phổ biến nhất], động mạch cánh tay, hoặc động mạch mu chân) và động mạch trung tâm (động mạch đùi [phổ biến nhất] hoặc động mạch nách). Động mạch ngoại biên thường dễ xác định vị trí hơn và có nguy cơ nhiễm trùng thấp hơn so với các vị trí động mạch trung tâm. Tại hầu hết các cơ sở y tế, động mạch quay, động mạch nách và động mạch đùi là những vị trí được ưu tiên sử dụng nhất, trong khi động mạch cánh tay hiếm khi được lựa chọn trừ một số trường hợp phẫu thuật tim mạch hoặc bệnh nhân có tình trạng y khoa phức tạp 3-6. Mặc dù được sử dụng thường xuyên ở trẻ em, vị trí động mạch mu chân thường tránh dùng ở bệnh nhân người lớn có biến chứng đái tháo đường hoặc bệnh lý động mạch ngoại biên chi dưới đáng kể. Các mốc giải phẫu cho những vị trí này được mô tả trong tài liệu riêng. (Xem “Khí máu động mạch”, mục ‘Lựa chọn vị trí’.)
Kiểm tra tuần hoàn bàng hệ – Trước khi đặt ống thông động mạch quay, việc kiểm tra tuần hoàn bàng hệ nuôi bàn tay cần được thực hiện để xác định các nguy cơ có thể dẫn đến biến chứng thiếu máu cục bộ 7. Sự biến thiên trong cung cấp máu đến cung gan tay sâu và nông đôi khi dẫn đến tưới máu không đầy đủ và gây thiếu máu sau khi đặt ống thông động mạch.
Thăm khám lâm sàng bao gồm nghiệm pháp Allen hoặc nghiệm pháp Allen cải tiến thường được áp dụng, mặc dù kết quả có sự khác biệt đáng kể giữa các người thực hiện, và nghiệm pháp này thiếu độ chính xác trong dự đoán nguy cơ thiếu máu bàn tay về sau 7-10. Mặc dù phương pháp tốt nhất để đánh giá sự thông suốt của động mạch quay và năng lực của tuần hoàn bàng hệ là siêu âm Doppler màu, thiết bị này không phải lúc nào cũng sẵn có 11. Các phương pháp thay thế đang được phát triển (ví dụ: đo thể tích bằng quang học – photoplethysmography) 12,13. (Xem “Khí máu động mạch”, mục ‘Đảm bảo tuần hoàn bàng hệ’.)
Cố định – Nếu lựa chọn động mạch quay, cổ tay thường được cố định trên nẹp có đệm. Đối với vị trí động mạch cánh tay hoặc động mạch đùi, tư thế duỗi thẳng chi giúp ích cho việc chọc kim ban đầu và duy trì tính toàn vẹn của ống thông.
KỸ THUẬT ĐẶT ỐNG THÔNG
Thủ thuật đặt ống thông động mạch cần được thực hiện với các quy trình vô khuẩn chuẩn. Cần chuẩn bị đầy đủ dụng cụ bao gồm thiết bị theo dõi, máy siêu âm, đồng thời tiến hành hiệu chỉnh điểm không (zeroing) cho bộ chuyển đổi áp lực và đảm bảo hệ thống sẵn sàng hoạt động. Danh mục thiết bị cần thiết được liệt kê trong bảng (bảng 2).
Kỹ thuật vô khuẩn
Vùng chọc dò được chuẩn bị theo kỹ thuật chuẩn. Đối với các vị trí động mạch ngoại biên (như động mạch quay, cánh tay, mu chân), cần sát khuẩn da bằng dung dịch chlorhexidine-alcohol và để khô trước khi thực hiện, đồng thời người thực hiện phải đeo găng tay vô khuẩn. Nếu sử dụng khăn trải có lỗ, cần đặt khăn sau khi dung dịch sát khuẩn đã khô trên da 2. Đối với các vị trí động mạch trung tâm (như động mạch đùi, động mạch nách), nên áp dụng các biện pháp phòng ngừa rào cản tối đa, bao gồm khẩu trang, mũ và kính bảo hộ nhằm giảm thiểu nguy cơ nhiễm khuẩn tại vị trí đặt ống và phòng ngừa khả năng lây truyền bệnh do máu bắn 2. (Xem “Đặt đường truyền tĩnh mạch trung tâm ở người lớn: Các nguyên tắc chung”, mục ‘Kỹ thuật vô khuẩn’.)
Tiêm thuốc tê tại chỗ
Chúng tôi sử dụng thuốc tê tại chỗ cho những bệnh nhân còn tỉnh táo khi thực hiện thủ thuật. Việc tiêm thuốc tê không ảnh hưởng tiêu cực đến tỉ lệ thành công của thủ thuật mà còn giúp giảm tình trạng co thắt mạch 14. Đặc biệt, gây tê tại chỗ là cần thiết trên những bệnh nhân tỉnh táo có làn da dày nếu cần thực hiện một đường rạch nhỏ ở da (hay còn gọi là “skin nick”), nhằm tránh làm tắc kim chọc bằng nút da và/hoặc tránh gây hư hại cho ống thông nhựa.
Sử dụng siêu âm hướng dẫn
Chúng tôi thường sử dụng siêu âm để xác định mạch máu thông suốt và hướng dẫn đặt ống thông 15-17.
Một phân tích gộp năm 2020 trên các thử nghiệm ngẫu nhiên về đặt ống thông dưới hướng dẫn siêu âm (19 thử nghiệm; 3229 bệnh nhân) cho thấy tỉ lệ thành công ngay lần chọc đầu tiên cao hơn (tỉ số nguy cơ [RR] 1.39, KTC 95% 1.21-1.59), số lần chọc trung bình ít hơn (hiệu số trung bình có trọng số [WMD] -0.80, KTC 95% -1.35 đến -0.25), thời gian trung bình để thực hiện thành công ngắn hơn (WMD -41.2, KTC 95% -75.4 đến -6.9), và giảm nguy cơ tụ máu (RR 0.40, KTC 95% 0.22-0.72) khi sử dụng siêu âm so với kỹ thuật bắt mạch truyền thống 18. Tương tự, một phân tích gộp năm 2018 trên các thử nghiệm ngẫu nhiên (12 thử nghiệm; 2.432 bệnh nhân) cũng ghi nhận rằng việc sử dụng siêu âm hướng dẫn liên quan đến tỉ lệ thành công trong lần chọc đầu tiên cao hơn (RR 1.35, KTC 95% 1.16-1.57) và tỉ lệ thất bại thấp hơn (RR 0.52, KTC 95% 0.32-0.87) so với việc chỉ bắt mạch bằng tay 17. Các phân tích gộp khác cũng cho thấy kết quả tương tự 18-20.
Lợi ích giả định của siêu âm là cho phép quan sát kim đi vào lòng mạch theo thời gian thực. Hiệu quả chưa được chứng minh trong các nghiên cứu chỉ sử dụng siêu âm để xác định vị trí hoặc vẽ bản đồ mạch máu mà không có hình ảnh động theo thời gian thực của quá trình đưa kim vào 15,21. Các mặt cắt ngang (trục ngắn) và/hoặc mặt cắt dọc (trục dài) có thể được sử dụng để xác định và chọc dò động mạch. Trong một thử nghiệm trên 164 bệnh nhân đặt ống thông động mạch quay, tỉ lệ thành công ngay lần chọc đầu tiên cao hơn khi sử dụng mặt cắt trục ngắn so với trục dài, nhưng tỉ lệ thất bại chung khi đặt ống thông là tương đương nhau 22. Một phân tích gộp năm 2018 báo cáo rằng tỉ lệ thành công cao nhất trong lần chọc đầu tiên đạt được khi kết hợp cả mặt cắt trục dài và trục ngắn cùng với kỹ thuật định vị đầu kim động (một kỹ thuật yêu cầu xác nhận đầu kim trong lòng mạch trên siêu âm thời gian thực trước khi đưa ống thông vào) 17. Việc quan sát bằng trục ngắn mà không định vị đầu kim động có tỉ lệ thành công lần đầu thấp hơn, tương đương với kỹ thuật bắt mạch không có siêu âm hướng dẫn. Mặc dù có thể sử dụng cả siêu âm B-mode hoặc siêu âm Doppler màu, việc quan sát kim thường tốt hơn với hình ảnh B-mode do ít nhiễu ảnh hơn. Tuy nhiên, sở thích của người lâm sàng phụ thuộc một phần vào vị trí động mạch được chọn.
Đáng chú ý, việc sử dụng siêu âm có thể làm giảm nguy cơ biến chứng như hình thành khối tụ máu nhờ phát hiện sớm khối tụ máu đang tiến triển hoặc sự hiện diện của túi phình giả hoặc rò động tĩnh mạch 23-25. Ngoài ra, siêu âm hướng dẫn có thể giảm nguy cơ thuyên tắc vì người thực hiện có thể tránh đặt ống thông vào vị trí có mảng xơ vữa hoặc vùng bị vôi hóa dọc theo thành động mạch 26. Hơn nữa, trong quá trình đặt ống thông động mạch nách, siêu âm có thể ngăn ngừa tổn thương các cấu trúc xung quanh, bao gồm đám rối cánh tay 26.
Sử dụng dây dẫn (guidewire)
Chúng tôi khuyến cáo sử dụng dây dẫn trong quá trình đặt ống thông động mạch, trừ khi người thực hiện đã có kinh nghiệm và quen thuộc hơn với kỹ thuật chọc trực tiếp. Hơn nữa, chúng tôi khuyến cáo chuyển sang kỹ thuật dùng dây dẫn nếu gặp khó khăn khi thực hiện chọc trực tiếp. Trong một thử nghiệm trên 69 bệnh nhân nặng, kỹ thuật chọc trực tiếp cho tỉ lệ thành công thấp hơn, thời gian thực hiện lâu hơn, tốn nhiều ống thông hơn và đòi hỏi số lần chọc nhiều hơn so với phương pháp sử dụng dây dẫn rời hoặc dây dẫn tích hợp 27. Tương tự, tỉ lệ thành công trong lần chọc đầu tiên cao hơn khi dùng dây dẫn so với kỹ thuật chọc trực tiếp trong một nghiên cứu thuần tập tiến cứu trên 138 bệnh nhân (82 so với 65 phần trăm), đặc biệt rõ rệt ở 42 bệnh nhân nữ (57 so với 14 phần trăm) 28.
Đối với tất cả các kỹ thuật đặt ống thông động mạch, tay không thuận của người thực hiện sẽ nhẹ nhàng bắt mạch động mạch, trong khi tay thuận điều khiển ống thông nội mạch (ống thông ngoài bao bọc lấy kim). Các kỹ thuật cụ thể bao gồm:
Kỹ thuật dùng dây dẫn rời (separate-guidewire) – Trong kỹ thuật này, ống thông nội mạch cùng với kim nòng trong được đưa vào dưới một góc 30 đến 45 độ và tiến dần một cách chậm rãi cho đến khi thấy máu đỏ tươi chảy ra theo nhịp đập (hình 3) 29. Sau đó, ống thông nội mạch được đẩy nhẹ thêm một chút, đảm bảo đầu ống thông đã nằm trong lòng mạch, hoặc cho đến khi máu ngừng chảy ra. Bước này nhằm nhận diện rằng máu bắt đầu chảy ra ngay khi kim chọc vào lòng mạch, nhưng trước khi phần ống thông ngoài cũng đi vào được lòng động mạch. Việc đẩy ống thông nội mạch vào đảm bảo ống thông ngoài đã nằm trọn trong lòng mạch.
Trong khi giữ cố định ống thông nội mạch bằng tay không thuận, tay thuận sẽ rút kim ra khỏi ống thông. Nếu thấy máu chảy ra theo nhịp đập sau khi rút kim, dây dẫn rời sẽ được đẩy qua ống thông ngoài. Nếu không thấy máu sau khi rút kim, ống thông ngoài được rút nhẹ ra cho đến khi thấy máu chảy lại theo nhịp, lúc này mới đẩy dây dẫn qua ống thông. Sau đó, đẩy dây dẫn vào sâu hơn cho đến khi đầu xa của dây dẫn vượt qua đầu xa của ống thông ngoài. Cuối cùng, đẩy ống thông ngoài trượt trên dây dẫn vào trong động mạch, rồi rút dây dẫn ra.
Kỹ thuật dùng dây dẫn tích hợp (integral-guidewire) – Đây là kỹ thuật phổ biến nhất, sử dụng loại dây dẫn không thể tách rời khỏi ống thông đã được đóng gói sẵn (hình 3). Kỹ thuật này tương tự như dùng dây dẫn rời. Tay không thuận bắt mạch, tay thuận điều khiển ống thông, chọc vào da một góc 30 đến 45 độ và tiến dần cho đến khi thấy máu chảy theo nhịp. Sau đó, giảm góc của bộ kim-dây dẫn-ống thông sao cho gần song song với mặt da hơn. Nếu máu vẫn chảy, đẩy chốt dây dẫn bằng tay thuận để đưa dây vào trong và xuyên qua kim cũng như ống thông. Tuy nhiên, nếu việc giảm góc độ khiến máu ngừng chảy, cần đẩy nhẹ bộ dụng cụ tiến lên chậm rãi cho đến khi thấy máu chảy trở lại. Sau đó, đẩy ống thông vào động mạch trượt trên kim và dây dẫn, rồi rút bộ phận kim-dây dẫn ra.
Kỹ thuật chọc trực tiếp (direct puncture) – Với kỹ thuật này, tay không thuận bắt mạch, tay thuận đưa bộ kim-ống thông vào với góc 30 đến 45 độ và tiến chậm rãi cho đến khi thấy máu chảy ra theo nhịp. Sau đó, giảm góc độ của bộ kim-ống thông để gần song song với mặt da hơn. Tiếp tục đẩy bộ kim-ống thông tiến thêm một hoặc hai milimet, đảm bảo máu vẫn tiếp tục chảy và không chỉ đầu kim mà cả đầu ống thông đều đã nằm trong lòng động mạch. Sau đó, đẩy ống thông ngoài vào động mạch trực tiếp từ kim mà không cần dùng dây dẫn, và rút kim ra.
Khi sử dụng kỹ thuật chọc trực tiếp, cần lưu ý rằng đầu kim luôn đi trước đầu ống thông khoảng 1 đến 2 mm. Khi chọc vào động mạch, “tia máu” đầu tiên đến từ đầu kim, nếu bộ kim-ống thông không được đẩy nhẹ vào trong lòng động mạch, đầu ống thông có thể vẫn nằm bên ngoài thành mạch. Khi đó, mọi nỗ lực đẩy ống thông sẽ thất bại vì ống thông sẽ đẩy thành mạch thay vì đi vào lòng mạch.
Tương tự, khi đẩy bộ kim-ống thông ở góc nông để đảm bảo ống thông nằm trong lòng mạch, máu có thể ngừng chảy. Khi đó, vì đầu kim đi trước, chỉ nên rút nhẹ kim ra. Thường thì đầu ống thông vẫn còn nằm trong lòng động mạch, máu sẽ chảy lại và có thể đẩy ống thông vào trong. Hoặc đôi khi cần rút nhẹ cả ống thông nếu kim và ống thông đã đâm xuyên qua cả thành sau của động mạch khiến máu không chảy ra. Việc rút nhẹ ống thông sẽ giúp đầu ống thông quay trở lại lòng động mạch và khôi phục dòng chảy. Khi đó mới đẩy ống thông vào sâu trong động mạch.
Cố định ống thông
Tất cả dụng cụ cần được chuẩn bị sẵn sàng từ trước, bao gồm các ống tiêm chứa dung dịch tráng rửa và hệ thống dây nối sẽ được kết nối với ống thông động mạch. Sau khi đã đẩy ống thông vào trong động mạch, rút kim ra. Cần ép vào vị trí động mạch ở phía trên (gần tim hơn) so với đầu ống thông để ngăn chảy máu sau khi rút kim và trong suốt quá trình kết nối với hệ thống dây dẫn áp lực đã được tráng rửa trước. Cuối cùng, ống thông cần được cố định bằng chỉ khâu hoặc bằng băng dính trong suốt.
THEO DÕI HUYẾT ÁP
Đo huyết áp liên tục trực tiếp bằng ống thông động mạch là tiêu chuẩn vàng để xác định huyết áp (HA) động mạch. Huyết áp trung bình (MAP) xác định bằng phép đo trực tiếp thường tương quan tốt với huyết áp đo bằng phương pháp thủ công hoặc băng đo huyết áp tự động không xâm lấn ở người lớn khỏe mạnh. (Xem “Theo dõi cơ bản cho bệnh nhân trong gây mê”, mục ‘Theo dõi huyết áp không xâm lấn’.)
Tuy nhiên, trong một thử nghiệm trên 152 bệnh nhân trải qua đại phẫu không liên quan đến tim mạch, theo dõi liên tục qua ống thông động mạch phát hiện tình trạng hạ huyết áp < 65 mmHg thường xuyên hơn so với theo dõi bằng băng đo huyết áp dao động (tỉ số chênh [OR] 1.78, KTC 95% 1.18-2.70) 30. Hơn nữa, các phép đo huyết áp không xâm lấn thường kém chính xác ở những bệnh nhân bị sốc, loạn nhịp tim, hoặc tình trạng tăng sức cản mạch hệ thống (SVR) nghiêm trọng (ví dụ: do dùng thuốc co mạch) 31, hoặc giảm SVR nghiêm trọng (ví dụ: sốc phân bố) 32,33. Các phép đo huyết áp không xâm lấn dường như cho thấy sự chênh lệch lớn nhất ở các giá trị huyết áp cực đoan so với phép đo xâm lấn; cụ thể là huyết áp thực tế thường bị đánh giá quá cao trong tình trạng hạ huyết áp nghiêm trọng và bị đánh giá thấp hơn trong tình trạng tăng huyết áp nghiêm trọng 34. Những tiến bộ công nghệ mới (ví dụ: kỹ thuật ghép thủy lực không xâm lấn từ mạch động mạch cánh tay sử dụng băng đo huyết áp cánh tay hoặc theo dõi huyết áp liên tục bằng băng đo ở ngón tay) có thể cải thiện độ chính xác và độ tin cậy của phương pháp theo dõi không xâm lấn 35,36. Những cải tiến này đặc biệt quan trọng khi việc thiết lập đường vào nội mạch gặp khó khăn (ví dụ: bệnh nhân béo phì, trẻ em) 36-38.
Phân tích dạng sóng áp lực động mạch
Dạng sóng động mạch được tạo thành từ quá trình tống máu từ thất trái vào động mạch chủ trong thì tâm thu, theo sau là sự thoát máu ra ngoại biên trong thì tâm trương 39. Dạng sóng động mạch bình thường được thể hiện trong hình (hình 4). Các dạng sóng áp lực động mạch quay bất thường có thể xuất hiện do bệnh lý ở động mạch chủ lên hoặc van động mạch chủ (ví dụ: bóc tách động mạch chủ, thay van động mạch chủ) 40,41, hoặc khi có sự sụt giảm huyết áp hệ thống hoặc sức cản mạch hệ thống. Các ví dụ về dạng sóng động mạch bất thường liên quan đến bệnh lý lâm sàng bao gồm mạch so le (pulsus alternans) trong suy thất trái, mạch nghịch lý (pulsus paradoxus) trong chèn ép tim cấp, mạch nảy mạnh chìm sâu (pulsus bisferiens hoặc water hammer pulse) trong hở van động mạch chủ, hoặc mạch anacrotic, mạch nhỏ và yếu (pulsus parvus) hoặc mạch chìm (pulsus tardus) trong hẹp van động mạch chủ. Những ví dụ này và các trường hợp khác được mô tả chi tiết trong một bài viết riêng. (Xem “Thăm khám mạch động mạch”.)
Nhánh lên tâm thu đại diện cho quá trình tống máu của thất trái. Sau áp lực tâm thu đỉnh là sự giảm áp lực nhanh chóng khi quá trình co cơ thất kết thúc (tức là giai đoạn giảm tâm thu). Điểm khuyết đôi (dicrotic notch hay incisura) đại diện cho thời điểm đóng van động mạch chủ, báo hiệu sự bắt đầu của thì tâm trương. Áp lực trong suốt thì tâm trương là yếu tố quyết định chính đến tưới máu mạch vành cho thất trái. Áp lực thấp nhất ở cuối chu kỳ tâm trương xuất hiện ngay trước nhánh lên động mạch tiếp theo.
Ngoài việc cung cấp các dữ liệu số tuyệt đối về giá trị huyết áp tâm thu đỉnh và huyết áp tâm trương thấp nhất, các thông tin huyết động hữu ích khác có thể được rút ra từ dạng sóng áp lực động mạch bao gồm:
Huyết áp động mạch trung bình (mean arterial pressure – MAP):MAP là áp lực trung bình được tính trên nhiều chu kỳ tim tại vị trí đo. Nó đại diện cho diện tích dưới đường cong trong một nhịp tim. Hầu hết các máy theo dõi đều tính trung bình con số này bằng điện tử trong một khoảng thời gian.
MAP có thể được ước tính bằng toán học là tổng của huyết áp tâm trương cộng với một phần ba huyết áp mạch (hiệu áp), mặc dù công thức này chỉ chính xác ở tần số tim xấp xỉ 60 nhịp mỗi phút 42.
Huyết áp mạch (pulse pressure): Huyết áp mạch là sự chênh lệch giữa huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương. Thông thường, huyết áp mạch tăng cao cho thấy tình trạng xơ cứng mạch máu liên quan đến tuổi tác, đặc biệt ở bệnh nhân cao tuổi bị tăng huyết áp 43. Huyết áp mạch của bệnh nhân giảm so với giá trị nền thường do giảm thể tích tuần hoàn, giảm thể tích nhát bóp (SV), hoặc tăng sức cản mạch hệ thống (SVR). Ngược lại, huyết áp mạch tăng so với giá trị nền thường do tăng SV và/hoặc giảm SVR (ví dụ: trong khi tập thể dục).
Độ biến thiên áp lực mạch (PPV) có thể được sử dụng để đánh giá tình trạng thể tích nội mạch. (Xem “Kiểm soát dịch truyền trong phẫu thuật”, mục ‘Các thông số động để đánh giá đáp ứng bù dịch’ và “Theo dõi cơ bản cho bệnh nhân trong gây mê”, mục ‘Các thiết bị theo dõi tuần hoàn khác’.)
Các thông số áp lực tâm thu và tâm trương khác: Độ dốc của nhánh lên tâm thu nhìn chung liên quan đến khả năng co bóp của thất trái, mặc dù các biến số huyết động khác cũng ảnh hưởng đến mối quan hệ này 44. Ví dụ, độ dốc này trở nên đứng hơn khi dạng sóng được đo càng xa động mạch chủ 45. (Xem ‘Vị trí đặt ống thông động mạch’ bên dưới.)
Độ dốc của giai đoạn giảm áp lực tâm trương (hay còn gọi là sự thoát máu tâm trương) thay đổi theo sức cản trong hệ thống động mạch. Nếu thể tích nhát bóp không đổi, sự thoát máu tâm trương sẽ giảm mạnh nếu SVR thấp (ví dụ: liệu pháp thuốc giãn mạch, sốc nhiễm khuẩn), nhưng sẽ giảm dần đều nếu SVR cao (ví dụ: liệu pháp thuốc co mạch, suy tim nặng).
Các yếu tố ảnh hưởng đến phép đo huyết áp
Mặc dù việc đo huyết áp trực tiếp qua động mạch ưu việt hơn so với các kỹ thuật không xâm lấn, việc diễn giải sai dữ liệu hoặc các vấn đề kỹ thuật vẫn có thể gây ra sai số 46.
Vị trí đặt ống thông động mạch
Dạng sóng áp lực động mạch thay đổi khi sóng áp lực di chuyển từ động mạch chủ ra ngoại biên. Các dạng sóng động mạch ngoại biên có huyết áp tâm thu cao hơn, nhánh lên tâm thu dốc hơn, huyết áp tâm trương thấp hơn, điểm khuyết đôi (dicrotic notch) thấp và muộn hơn, cùng với huyết áp mạch rộng hơn so với các phép đo tại gốc động mạch chủ 45,47. Ví dụ, huyết áp tâm thu ở động mạch quay có thể cao hơn từ 10 đến 35 mmHg so với huyết áp tâm thu tại động mạch chủ, trong khi các phép đo áp lực tâm trương và MAP ít bị ảnh hưởng hơn tại vị trí ngoại biên 48,49. Những thay đổi này là kết quả của sự giảm đường kính mạch máu ngoại biên, tính đàn hồi của chúng, và sự phản xạ sóng từ các điểm chia nhánh và thành mạch máu ngoại biên 50.
Vị trí bộ chuyển đổi áp lực (Transducer)
Bộ chuyển đổi áp lực cần được đặt ở mức tương ứng với vị trí của tim, nhắm vào điểm cách 5 cm phía sau xương ức ở bệnh nhân nằm ngửa (hình 1) 51,52, đây là điểm xấp xỉ chính xác nhất với vị trí gốc động mạch chủ ở người lớn. Ngoài ra, đường nách giữa cũng được sử dụng làm mức tham chiếu phù hợp, đặc biệt khi áp lực động mạch trực tiếp được theo dõi đồng thời cùng với áp lực động mạch phổi hoặc áp lực tĩnh mạch trung tâm 53-55. Ở tư thế nằm nghiêng (cả nghiêng phải hoặc nghiêng trái), bộ chuyển đổi nên được đặt ở mức giữa xương ức (xem “Tư thế bệnh nhân trong phẫu thuật và gây mê ở người lớn”, mục ‘Tư thế nằm nghiêng’). Trong một số trường hợp (ví dụ: tư thế ngồi), bác sĩ gây mê có thể quyết định đặt bộ chuyển đổi ngang với ống tai ngoài để phản ánh áp lực tại đa giác Willis, từ đó đánh giá áp lực tưới máu não. (Xem “Tư thế bệnh nhân trong phẫu thuật và gây mê ở người lớn”, mục ‘Ảnh hưởng sinh lý của tư thế ngồi’.)
Bất kể mức độ được chọn cho bộ chuyển đổi là bao nhiêu, cần nhận thức rằng vị trí của bộ chuyển đổi là yếu tố quyết định tới tất cả các chỉ số áp lực nội mạch được theo dõi trực tiếp. Nếu vị trí của bệnh nhân so với bộ chuyển đổi thay đổi, mức đặt bộ chuyển đổi cũng cần được điều chỉnh để tránh các kết quả đo huyết áp sai lệch 56. Sự khác biệt về áp lực thủy tĩnh giữa các vị trí thẳng đứng khác nhau của bộ chuyển đổi có thể được tính toán dễ dàng (chiều cao cột nước 10 cm = 7.4 mmHg), và các điều chỉnh độ cao bộ chuyển đổi sau đó sẽ luôn tạo ra những khác biệt chính xác như vậy trong các chỉ số áp lực đo được (xem phần hiệu chuẩn bộ chuyển đổi bên dưới).
Ngoài việc đảm bảo mức đặt bộ chuyển đổi phù hợp, bộ chuyển đổi cũng phải được “hiệu chỉnh về không” (zeroing) trước khi theo dõi. Để thực hiện việc này, khóa ba chạc nằm cạnh bộ chuyển đổi được xoay đóng phía bệnh nhân, sau đó mở ra môi trường không khí để tiếp xúc với áp lực khí quyển. Nút hiệu chỉnh về không trên máy theo dõi tại giường sau đó được chọn, giúp thiết lập giá trị áp lực khí quyển bằng 0. Khóa ba chạc sau đó được đóng lại với không khí và điều chỉnh về độ cao sao cho tương xứng nhất với mức tim như đã mô tả ở trên. Lưu ý rằng bộ chuyển đổi áp lực không cần phải hiệu chỉnh lại về không khi độ cao của nó chỉ được điều chỉnh nhẹ để căn chỉnh phù hợp với bệnh nhân. Tuy nhiên, bộ chuyển đổi phải luôn được hiệu chỉnh về không trước khi bắt đầu theo dõi, bất cứ khi nào cáp theo dõi áp lực điện tử bị ngắt kết nối, và khi có nghi ngờ về độ chính xác của huyết áp 57.
Hiện tượng giảm chấn quá mức (over-damping) hoặc thiếu hụt giảm chấn (under-damping) của đường biểu diễn áp lực
Ống thông động mạch, dây nối không đàn hồi và các khóa ba chạc được sử dụng trong theo dõi xâm lấn đều làm thay đổi mức độ giảm chấn của dạng sóng áp lực giữa động mạch và bộ chuyển đổi áp lực 58. Do đó, cần tránh sử dụng dây nối quá dài và các khóa ba chạc không cần thiết. Ngoài ra, dạng sóng áp lực động mạch có thể bị giảm chấn do bọt khí hoặc cục máu đông trong ống thông, gây ra thay đổi đặc trưng (đôi khi rất tinh tế) trên dạng sóng, dẫn đến giảm huyết áp tâm thu hiển thị và huyết áp mạch bị hẹp giả tạo. Tuy nhiên, MAP thường vẫn chính xác trong những trường hợp này. Việc loại bỏ bọt khí hoặc tráng rửa ống thông thường giải quyết được tình trạng giảm chấn quá mức. Nếu nghi ngờ có cục máu đông ở đầu ống thông, cần thay thế ống thông.
Mức độ giảm chấn (tức là đáp ứng động) trong một hệ thống theo dõi có phù hợp hay không có thể được đánh giá tại giường bằng nghiệm pháp tráng rửa nhanh (rapid-flush test) (hình 5) 59,60. Nghiệm pháp này được thực hiện bằng cách mở và đóng nhanh van của thiết bị tráng rửa liên tục, tạo ra một làn sóng vuông trên màn hình theo dõi. Sau làn sóng vuông là hiện tượng “vỗ” (ringing – các dao động nhanh của áp lực), sau đó trở về đường nền. Tình trạng giảm chấn quá mức hoặc thiếu hụt giảm chấn có thể xảy ra:
- Giảm chấn quá mức (Over-damping) – Không quan sát thấy hiện tượng “vỗ” sau khi tráng rửa nhanh ở một hệ thống bị giảm chấn quá mức. Các nguyên nhân phổ biến bao gồm bọt khí hoặc cục máu đông trong dây nối, kết nối lỏng lẻo, dây bị gập, hoặc co thắt động mạch (hình 6).
- Thiếu hụt giảm chấn (Under-damping) – Quan sát thấy hiện tượng “vỗ” quá mức sau khi tráng rửa nhanh trong một hệ thống bị thiếu hụt giảm chấn (hình 7). Các nguyên nhân phổ biến bao gồm dây nối quá dài, dây nối kết hợp với nhiều khóa ba chạc, và các yếu tố từ phía bệnh nhân như nhịp tim nhanh, cung lượng tim cao, hoặc hạ thân nhiệt. Nhìn chung, hầu hết các hệ thống theo dõi áp lực động mạch sử dụng trên lâm sàng đều hơi thiếu hụt giảm chấn, dẫn đến hiện tượng “vượt ngưỡng” (overshoot) của áp lực tâm thu thường thấy 58,61.
Hiệu chuẩn
Việc hiệu chuẩn định kỳ máy theo dõi và bộ chuyển đổi áp lực không còn cần thiết vì các bộ chuyển đổi dùng một lần hiện đại đã được tiêu chuẩn hóa 62. Tuy nhiên, nếu nghi ngờ có sai số hiệu chuẩn, có thể thực hiện một kiểm tra đơn giản tại giường bằng cách tạo ra một “cột nước” có chiều cao tiêu chuẩn bằng dây nối chứa nước muối sinh lý. Ví dụ, chiều cao 30 cm nước sẽ hiển thị áp lực xấp xỉ 22 mmHg 63.
THEO DÕI TÌNH TRẠNG THỂ TÍCH NỘI MẠCH
Phân tích biến thiên theo nhịp hô hấp
Phân tích dạng sóng động mạch có thể được sử dụng để xác định khả năng đáp ứng với dịch truyền. Các biến thiên trên dạng sóng xuất hiện trong quá trình hô hấp (ví dụ: độ biến thiên áp lực mạch [PPV], độ biến thiên áp lực tâm thu [SPV], hoặc độ biến thiên thể tích nhát bóp [SVV]) có thể được quan sát hoặc đo lường để đánh giá đáp ứng với các thử nghiệm bù dịch (hình 1 và hình 2) 64-68. Mỗi chỉ số động dựa trên biến thiên hô hấp đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, với các hạn chế về độ nhạy và độ đặc hiệu (bảng 1) 64,69-71. Mặc dù các chỉ số huyết động về biến thiên hô hấp có thể được tính toán (thủ công hoặc tự động), việc ước tính bằng mắt thường cũng có thể đủ để định hướng cho liệu pháp dịch truyền. (Xem “Kiểm soát dịch truyền trong phẫu thuật”, mục ‘Biến thiên hô hấp trong dạng sóng áp lực động mạch’ và “Các công cụ mới trong theo dõi huyết động cho bệnh nhân nặng bị sốc”, mục ‘Dung nạp thể tích và khả năng đáp ứng với dịch truyền’.)
Đo cung lượng tim
Mặc dù tiêu chuẩn vàng để đo cung lượng tim là kỹ thuật đo nhiệt pha loãng bằng ống thông động mạch phổi (PAC), nhưng những rủi ro liên quan đến đặt catheter tĩnh mạch trung tâm cũng như việc đưa và duy trì PAC đã dẫn đến sự phát triển của các phương pháp thay thế như thiết bị dựa trên phân tích dạng sóng động mạch, thiết bị dựa trên pha loãng lithium, và các thiết bị dựa trên kỹ thuật đo nhiệt pha loãng 64,72. Thông tin chi tiết về độ chính xác và tính hữu dụng của các công nghệ này được thảo luận ở các bài viết khác. (Xem “Các công cụ mới trong theo dõi huyết động cho bệnh nhân nặng bị sốc”, mục ‘Phân tích dạng sóng mạch động mạch’.)
BIẾN CHỨNG
Các biến chứng có ý nghĩa lâm sàng của việc đặt ống thông động mạch không phổ biến. Hầu hết các biến chứng có thể xảy ra ở bất kỳ vị trí chọc dò nào, mặc dù một số biến chứng mang tính đặc thù theo vị trí (bảng 3). Việc lựa chọn vị trí phù hợp, tuân thủ kỹ thuật vô khuẩn và sử dụng siêu âm hướng dẫn trong khi đặt catheter sẽ giúp giảm thiểu tối đa các biến chứng.
Các biến chứng chung cho mọi vị trí
Các biến chứng của ống thông động mạch lưu bao gồm bầm tím, đau, sưng nề, tụ máu hoặc chảy máu tại vị trí chọc, tổn thương các cấu trúc lân cận, nhiễm trùng tại chỗ hoặc toàn thân, và mất máu do lấy máu xét nghiệm. Ngoài ra, các biến chứng mạch máu cụ thể bao gồm co thắt mạch, thuyên tắc huyết khối, bóc tách động mạch, giả phình động mạch hoặc hình thành rò động tĩnh mạch. Những biến chứng mạch máu này có thể gây thiếu máu cục bộ tại chỗ hoặc phía xa, trong những trường hợp hiếm gặp có thể tiến triển thành hoại tử.
Co thắt mạch
Co thắt mạch là một biến chứng phổ biến sau khi đặt ống thông động mạch, xảy ra ở 57% bệnh nhân trong một nghiên cứu và thường là dấu hiệu khởi đầu ở các động mạch phát triển huyết khối 73 (xem mục ‘Huyết khối’ bên dưới). Tình trạng co thắt mạch được nhận diện thông qua các dấu hiệu: đau ở chi, giảm huyết áp (HA) động mạch, đường biểu diễn áp lực động mạch bị giảm chấn nghiêm trọng, mất mạch động mạch hoặc chỉ số chất lượng tín hiệu của sóng mạch (plethysmogram) trên máy đo độ bão hòa oxy ở phía xa vị trí đặt catheter bị giảm đáng kể 74. Các yếu tố nguy cơ có thể bao gồm giới tính nữ, đái tháo đường và/hoặc tỉ lệ giữa kích thước catheter so với kích thước động mạch quay 75.
Chúng tôi không sử dụng các tác nhân tiêm trong động mạch để giảm tỉ lệ co thắt mạch. Các nghiên cứu nhằm giảm nguy cơ co thắt mạch bao gồm tiêm trong động mạch heparin, nitroglycerin, nitroprusside, verapamil và phentolamine, cũng như sử dụng các thuốc an thần toàn thân 76-79. Thuốc an thần toàn thân có thể làm giảm dẫn truyền giao cảm đến các thụ thể alpha-1 ưu thế tại các động mạch xa, giúp giảm nguy cơ co thắt mạch. Tuy nhiên, kết quả từ các nghiên cứu này không nhất quán và hầu hết được thực hiện trên các bệnh nhân can thiệp mạch vành qua da với tỉ lệ kích thước catheter so với động mạch quay lớn.
Huyết khối
Huyết khối động mạch có thể được nghi ngờ ở những bệnh nhân có mạch phía xa giảm, đường biểu diễn áp lực động mạch bị giảm chấn hoặc mất sóng, hoặc các đầu chi có màu tím tái. Trong những trường hợp hiếm gặp, bệnh nhân có thể bị hoại tử chi 80. Huyết khối có thể được phát hiện bằng siêu âm Doppler ở tối đa 25% bệnh nhân có đặt ống thông động mạch, mặc dù huyết khối có ý nghĩa lâm sàng xảy ra ở dưới 1% số bệnh nhân này 81,82. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến huyết khối bao gồm 82-85:
- Thời gian đặt ống thông kéo dài (tức là > 72 giờ)
- Kích thước catheter lớn
- Mạch máu có đường kính nhỏ
- Tình trạng dòng chảy thấp (ví dụ: cung lượng tim thấp)
- Bệnh lý động mạch ngoại biên
- Rối loạn co thắt mạch (ví dụ: hội chứng Raynaud)
Chúng tôi không sử dụng thường quy heparin hoặc natri citrat để duy trì độ thông suốt của ống thông động mạch, thay vào đó, chúng tôi sử dụng nước muối sinh lý để tráng rửa và duy trì catheter. Một phân tích gộp năm 2014 không ghi nhận sự khác biệt đáng kể về độ thông suốt hoặc chức năng của catheter giữa các nghiên cứu có hoặc không sử dụng dung dịch heparin tráng rửa với áp lực liên tục ở liều 1 đến 2 đơn vị quốc tế/mL (bảy thử nghiệm; 505 bệnh nhân) 86. Là một giải pháp thay thế cho heparin, natri citrat được một số trung tâm sử dụng để duy trì độ thông suốt của ống thông khi chống chỉ định dùng heparin (ví dụ: giảm tiểu cầu do heparin). Tuy nhiên, trong một thử nghiệm ngẫu nhiên nhỏ trên 40 bệnh nhân nặng, không ghi nhận sự khác biệt về độ thông suốt của ống thông đối với dung dịch tráng rửa chứa natri citrat 1.4% hoặc heparin 4 đơn vị quốc tế/mL 87.
Thuyên tắc hạt (particulate embolism)
Thiếu máu cục bộ ở chi do thuyên tắc có thể xảy ra nếu quá trình đặt hoặc thao tác với ống thông động mạch làm bong hoặc vỡ cục máu đông hoặc các mảnh vụn xơ vữa. Các ống thông động mạch đặt gần gốc động mạch cảnh (ví dụ: động mạch nách) có thể gây thuyên tắc não.
Cần theo dõi mạch ngoại biên thường xuyên ở tất cả các bệnh nhân có đặt ống thông động mạch để phát hiện sớm tình trạng thuyên tắc. Cần thận trọng khi tráng rửa ống thông (thực hiện nhẹ nhàng với áp lực tối thiểu cần thiết). Tránh tráng rửa bằng áp lực cao kéo dài bằng van tráng rửa của hệ thống để giảm thiểu nguy cơ thuyên tắc ngược dòng do các hạt nhỏ hoặc bọt khí 88,89. (Xem mục ‘Thuyên tắc khí’ bên dưới).
Các dấu hiệu và triệu chứng của thiếu máu cục bộ do thuyên tắc phụ thuộc vào sự hiện diện (hoặc vắng mặt) của tuần hoàn bàng hệ và kích thước của các hạt gây thuyên tắc. Thuyên tắc và thiếu máu cục bộ ngoại biên (ví dụ: ở các đầu ngón tay) thường gặp hơn đối với ống thông động mạch lưu. Tuy nhiên, thiếu máu cục bộ chi gần có thể xảy ra nếu chính vị trí đặt ống thông bị huyết khối.
Thuyên tắc khí
Bọt khí trong dung dịch tráng rửa của hệ thống theo dõi ống thông động mạch có thể gây thuyên tắc theo chiều xuôi dòng hoặc ngược dòng và có thể gây tổn thương thiếu máu cục bộ cho não, tủy sống, tim hoặc da. Trong một mô hình nghiên cứu trên linh trưởng, 2 mL không khí tiêm vào động mạch quay bằng thiết bị truyền áp lực chuẩn đã dẫn đến thuyên tắc khí não có ý nghĩa lâm sàng 90. Các trường hợp thuyên tắc như vậy dễ xảy ra hơn ở bệnh nhân có cơ thể nhỏ bé hoặc ở tư thế ngồi thẳng. (Xem “Thuyên tắc khí”, mục ‘Nguyên nhân’).
Cần lưu ý rằng không khí đưa vào tuần hoàn động mạch qua ống thông động mạch có khả năng để lại hậu quả nghiêm trọng hơn so với không khí đưa vào qua ống thông tĩnh mạch, vì khí tĩnh mạch sẽ di chuyển đến mao mạch phổi và không đi qua tim trái. (Xem “Thuyên tắc khí”, mục ‘Thuyên tắc khí động mạch’).
Tiêm nhầm thuốc vào động mạch
Việc vô ý tiêm thuốc vào động mạch có thể dẫn đến thiếu máu cục bộ hoặc tổn thương chi và các cơ quan đích khác. Cơ chế gây tổn thương có thể liên quan đến độc tính tế bào của chính loại thuốc đó, hoặc do tắc nghẽn lưu lượng máu gây ra bởi sự hình thành tinh thể thuốc, tan máu và ngưng tập tiểu cầu do tổn thương lớp nội mạc mạch máu, hoặc co mạch mạnh và dẫn đến huyết khối (ví dụ: do tiêm norepinephrine) 91,92. Các phản ứng bất lợi cụ thể gây ra bởi nhiều loại thuốc khác nhau sau khi tiêm vào động mạch được thể hiện trong bảng (bảng 4).
Bóc tách, giả phình động mạch và rò động tĩnh mạch
Bóc tách động mạch, hình thành túi phình giả và rò động tĩnh mạch là những biến chứng không phổ biến của đặt ống thông động mạch. Bóc tách xảy ra ở khoảng 1% bệnh nhân đặt ống thông động mạch quay để chụp mạch vành 93. Việc nhận diện sớm thông qua theo dõi chặt chẽ dạng sóng động mạch là rất quan trọng vì tình trạng bóc tách cấp tính có thể dẫn đến tắc động mạch và thiếu máu cục bộ ở phía xa.
Hình thành túi phình giả (pseudoaneurysm) là một biến chứng rất hiếm gặp, với tỉ lệ < 0.1% sau khi tiếp cận động mạch quay để chụp mạch vành 94. Biểu hiện lâm sàng là một khối đập theo nhịp mạch, thường xuất hiện sau khi chảy máu tại chỗ và/hoặc hình thành khối tụ máu. Tổn thương thành động mạch như vậy thường liên quan đến việc thực hiện chọc dò nhiều lần, kích thước ống thông lớn, sử dụng thuốc chống đông và nhiễm trùng catheter 95. Đây có thể là biến chứng sớm hoặc muộn.
Rất hiếm khi xảy ra tình trạng rò động tĩnh mạch sau khi đặt ống thông động mạch 96.
Nhiễm trùng tại chỗ hoặc toàn thân
So với catheter tĩnh mạch trung tâm (CVC), nhìn chung nguy cơ nhiễm trùng đối với ống thông động mạch được chấp nhận là thấp hơn. Hầu hết các ca nhiễm trùng liên quan đến ống thông động mạch phát triển do nhiễm trùng tại chỗ (ví dụ: tại vị trí chọc), khoảng 10% do sự khu trú của vi khuẩn (colonization), và rất hiếm khi do nhiễm khuẩn huyết hoặc sốc nhiễm khuẩn 97-104.
Tỉ lệ nhiễm trùng chung rất khó ước tính do các định nghĩa về nhiễm trùng khác nhau giữa các nghiên cứu, cũng như việc gộp chung cả catheter động mạch và tĩnh mạch trong nhiều báo cáo. Một phân tích gộp năm 2013 bao gồm 49 nghiên cứu với gần 31.000 ống thông động mạch cho thấy tỉ lệ nhiễm trùng máu liên quan đến ống thông động mạch là 3.4 trên 1000 ống thông, với 0.96 ca nhiễm trùng trên 1000 ngày đặt ống 104. Một tỉ lệ nhiễm trùng cao hơn đã được ghi nhận ở vị trí động mạch đùi (1.5 trên 100 ống thông) so với vị trí động mạch quay (0.3 trên 100 ống thông). Tuy nhiên, một phân tích gộp khác năm 2020 trên 2.256 ống thông động mạch đùi và 4.117 ống thông động mạch quay lại cho thấy tỉ lệ nhiễm trùng máu liên quan đến catheter (0.4 so với 0.5%) và nhiễm trùng nặng liên quan đến catheter (0.7 so với 0.8%) là tương đương nhau, mặc dù tỉ lệ khu trú vi khuẩn ở ống thông động mạch đùi cao hơn một chút so với ống thông động mạch quay (8.6 so với 6.4%) 105. (Xem “Nhiễm trùng liên quan đến catheter nội mạch: Dịch tễ học, cơ chế bệnh sinh và vi sinh vật”.)
Các yếu tố nguy cơ nhiễm trùng liên quan đến catheter bao gồm kỹ thuật vô khuẩn kém trong quá trình đặt, đặt catheter bằng phương pháp phẫu thuật mở (surgical cut-down) và thời gian lưu ống kéo dài (≥ 4 ngày) 2,98,99,101,106. Các biện pháp phòng ngừa dựa trên các nghiên cứu về phòng ngừa nhiễm trùng liên quan đến catheter ở bệnh nhân có CVC hoặc ống thông động mạch phổi (PAC) (bảng 5).
Mất máu do thủ thuật (iatrogenic blood loss)
Các xét nghiệm cận lâm sàng không chỉ đòi hỏi lấy một lượng máu làm mẫu xét nghiệm, mà còn có thể lãng phí thêm từ 3 đến 12 mL máu (để tránh nhiễm bẩn mẫu bởi dung dịch nước muối hoặc heparin). Tình trạng mất máu đáng kể có thể xảy ra nếu bệnh nhân cần thực hiện xét nghiệm thường xuyên 107,108. Các chiến lược giúp giảm thiểu lượng máu mất do thủ thuật bao gồm:
- Lấy mẫu từ cổng gần vị trí đặt catheter nhất, hoặc sử dụng hệ thống lấy máu kín cho phép truyền trả lại lượng máu không sử dụng 109.
- Sử dụng phương pháp theo dõi khí máu động mạch tại chỗ nếu việc lấy máu xét nghiệm khí máu là lý do chính. Kỹ thuật này sử dụng cảm biến quang học huỳnh quang (fluorescent optode) để đo pH động mạch, phân áp khí cacbonic động mạch ($PaCO_2$) và phân áp oxy động mạch ($PaO_2$) khi cần thiết mà không cần rút máu ra khỏi cơ thể bệnh nhân 110. Các hệ thống cảm biến liên tục sợi quang cũng đã sẵn có và có thể mang lại nhiều lợi ích nếu dự kiến cần theo dõi trong thời gian dài 111.
Các biến chứng đặc thù theo vị trí
Mỗi vị trí đặt ống thông động mạch đều đi kèm với những biến chứng tiềm ẩn riêng biệt (bảng 3) 84,100,112,113. Chẳng hạn, đặt ống thông động mạch quay liên quan đến bệnh lý thần kinh ngoại biên, động mạch đùi liên quan đến khối tụ máu sau phúc mạc, động mạch nách liên quan đến tổn thương đám rối cánh tay, và động mạch cánh tay liên quan đến tổn thương thần kinh giữa.
Mặc dù nhiều vị trí có thể cùng xảy ra các biến chứng tương tự (ví dụ: chảy máu), tần suất xuất hiện lại khác nhau tùy theo từng vị trí chọc dò. Cụ thể như:
- Các biến chứng phổ biến nhất liên quan đến đặt ống thông động mạch quay là tắc mạch (2 đến 35%) và tụ máu (lên đến 15%). Hiếm khi xảy ra tổn thương vĩnh viễn từ các biến chứng này 114.
- Một biến chứng thường gặp khi đặt ống thông động mạch đùi là tụ máu (6%), có thể tiến triển lớn và khó phát hiện nếu khối tụ máu lan vào khoang sau phúc mạc 114. (Xem “Các biến chứng liên quan đến đường vào qua da trong các thủ thuật chẩn đoán hoặc can thiệp”.)
DUY TRÌ ỐNG THÔNG ĐỘNG MẠCH LƯU
Chúng tôi áp dụng các biện pháp sau để duy trì tính toàn vẹn của ống thông động mạch và phòng ngừa nhiễm trùng tại chỗ hoặc toàn thân (xem mục ‘Nhiễm trùng tại chỗ hoặc toàn thân’ ở trên):
- Ống thông động mạch không được thay đổi vị trí định kỳ sau bất kỳ khoảng thời gian nào 2,115. Thay vào đó, việc đánh giá lâm sàng kỹ lưỡng tại vị trí đặt ống và tình trạng bệnh nhân là cơ sở để quyết định liệu có cần thay thế ống thông hay không. Tuy nhiên, bất kỳ ống thông nào được đặt trong điều kiện cấp cứu (tức là đặt mà không tuân thủ các quy định vô khuẩn chuẩn) nên được thay thế càng sớm càng tốt. Cần rút bỏ ống thông động mạch khi việc sử dụng chúng không còn thiết yếu đối với việc chăm sóc bệnh nhân. Tốt nhất không nên lưu ống thông động mạch đùi quá năm ngày do nguy cơ nhiễm trùng cao hơn, và không quá bảy ngày đối với các vị trí khác.
- Các bộ chuyển đổi áp lực (transducer) loại dùng một lần hoặc tái sử dụng được thay thế sau mỗi 96 giờ. Hệ thống dây nối đi kèm, thiết bị tráng rửa liên tục và các dung dịch tráng rửa cũng được thay thế tương ứng 2.
- Băng gạc tại vị trí đặt ống được thay thế khi bị ẩm, lỏng, hoặc bẩn, cũng như khi rút hoặc thay thế ống thông động mạch.
- Dự phòng kháng sinh được áp dụng trong một số trường hợp chọn lọc. (Xem “Dự phòng kháng sinh để ngăn ngừa nhiễm trùng vết mổ ở người lớn”.)
RÚT ỐNG THÔNG ĐỘNG MẠCH
Trước khi rút bất kỳ ống thông động mạch nào, cần kiểm tra chỉ số INR, thời gian thromboplastin từng phần (PTT) và số lượng tiểu cầu, đồng thời lưu ý các thuốc đang sử dụng ảnh hưởng đến chức năng đông cầm máu. Nếu các chỉ số này bất thường hoặc bệnh nhân đang điều trị bằng thuốc kháng tiểu cầu, cần kéo dài thời gian ép cầm máu. Khác với việc rút catheter tĩnh mạch, không cần thiết phải duy trì tư thế Trendelenburg để tránh thuyên tắc khí, mặc dù tư thế nằm ngửa vẫn được ưu tiên đối với bệnh nhân có ống thông động mạch đùi để có thể duy trì áp lực ép đủ mạnh sau khi rút.
Kỹ thuật vô khuẩn cần được tuân thủ trong quá trình rút ống thông động mạch và phải cẩn trọng để tránh máu bắn. Sau khi rửa tay, cần đeo găng tay sạch, mặc áo choàng bảo hộ và đeo khẩu trang có tấm chắn giọt bắn cho mọi trường hợp rút ống thông động mạch bất kể vị trí đặt ống. Nên tráng rửa ống thông trước khi rút, hoặc có thể rút ngược máu vào trong ống thông để chuẩn bị cho việc loại bỏ.
Để rút ống thông, làm sạch vị trí chọc dò bằng chlorhexidine, đặt gạc 4×4 và ấn áp lực lên vị trí chọc động mạch, sau đó từ từ rút ống thông ra trong khi vẫn duy trì áp lực tại cả vị trí chọc động mạch và vị trí đâm xuyên qua da. Thông thường, cần ép áp lực trong năm phút đối với động mạch quay và mười phút đối với động mạch đùi.
Ngoài vị trí chọc, thời gian ép cầm máu tối ưu còn phụ thuộc vào kích thước ống thông; cần thời gian ép dài hơn đối với các thiết bị hoặc bao dẫn (sheath) có đường kính lớn. Đối với bệnh nhân có bệnh lý đông máu, thời gian ép cần tăng lên mười phút đối với động mạch quay và 15 đến 20 phút đối với động mạch đùi. Nếu vẫn còn rỉ máu, cần tiếp tục ép thêm năm phút và kiểm tra lại. Sau khi máu đã ngừng chảy, có thể đặt băng gạc.
Sau khi rút, cần kiểm tra ống thông để đảm bảo còn nguyên vẹn. Nếu ống thông bị đứt, cần ấn áp lực ở phía trên vị trí ống thông đi vào da. Vì các mảnh vỡ của ống thông có thể gây thuyên tắc làm tắc nghẽn tuần hoàn chi xa, nên khẩn trương hội chẩn ngoại khoa. (Xem mục ‘Thuyên tắc hạt’ ở trên).
Sau khi rút ống từ vị trí động mạch đùi, háng cần được giữ duỗi thẳng (không gập) trong tối đa hai giờ. Cần kiểm tra lại mạch tại vị trí chọc và các mạch phía xa sau 15 phút để theo dõi các dấu hiệu tụ máu hoặc thiếu máu cục bộ chi.
TÓM TẮT VÀ KHUYẾN CÁO
Công dụng – Ống thông động mạch lưu được sử dụng để theo dõi liên tục huyết áp (HA) hệ thống, đánh giá các biến thiên theo nhịp hô hấp của dạng sóng áp lực động mạch nhằm xác định tình trạng thể tích nội mạch, và lấy máu xét nghiệm ngắt quãng. (Xem mục ‘Công dụng’ ở trên.)
Lựa chọn vị trí – Vị trí đặt catheter được chọn bằng cách xác định mạch động mạch có thể bắt được ở ngoại biên (động mạch quay, cánh tay, mu chân) hoặc động mạch trung tâm (ví dụ: động mạch đùi, động mạch nách). (Xem mục ‘Lựa chọn vị trí’ ở trên.)
Kỹ thuật:
- Kỹ thuật vô khuẩn – Luôn áp dụng các quy trình vô khuẩn chuẩn cho ống thông động mạch ngoại biên, bao gồm khẩu trang, găng tay vô khuẩn và khăn trải. Khi đặt ống thông động mạch trung tâm, cần áp dụng các biện pháp phòng ngừa rào cản tối đa, bao gồm thêm mũ và kính bảo hộ. Danh mục thiết bị cần thiết được liệt kê trong bảng (bảng 2). (Xem mục ‘Kỹ thuật vô khuẩn’ ở trên.)
- Sử dụng thuốc tê tại chỗ – Ở bệnh nhân còn tỉnh táo, chúng tôi sử dụng thuốc tê tại chỗ để tránh đau (đặc biệt nếu cần rạch da). (Xem mục ‘Tiêm thuốc tê tại chỗ’ ở trên.)
- Sử dụng siêu âm – Chúng tôi thường quy sử dụng siêu âm để xác định mạch máu thông suốt và hướng dẫn đặt ống thông.
- Sử dụng dây dẫn (guidewire) – Dây dẫn thường được sử dụng (hình 3), đặc biệt nếu gặp khó khăn với kỹ thuật chọc trực tiếp. (Xem mục ‘Sử dụng dây dẫn’ ở trên.)
Các lưu ý trong theo dõi:
- Huyết áp – Mặc dù việc đo HA trực tiếp qua động mạch ưu việt hơn so với các kỹ thuật không xâm lấn, nhưng các yếu tố như vị trí đặt ống thông, mức đặt bộ chuyển đổi áp lực (transducer), hoặc tình trạng giảm chấn của đường biểu diễn áp lực có thể gây diễn giải sai dạng sóng áp lực động mạch hoặc gây sai số (hình 4 và hình 8). (Xem mục ‘Theo dõi huyết áp’ ở trên.)
- Tình trạng thể tích nội mạch – Phân tích dạng sóng động mạch có thể được sử dụng để xác định khả năng đáp ứng với dịch truyền. Các biến thiên trên dạng sóng xuất hiện trong quá trình hô hấp (ví dụ: độ biến thiên áp lực mạch [PPV], độ biến thiên áp lực tâm thu [SPV], hoặc độ biến thiên thể tích nhát bóp [SVV]) có thể được quan sát hoặc đo lường để đánh giá đáp ứng với các thử nghiệm bù dịch (hình 1, hình 2 và bảng 1). (Xem “Kiểm soát dịch truyền trong phẫu thuật”, mục ‘Biến thiên hô hấp trong dạng sóng áp lực động mạch’ và “Các công cụ mới trong theo dõi huyết động cho bệnh nhân nặng bị sốc”, mục ‘Dung nạp thể tích và khả năng đáp ứng với dịch truyền’.)
Biến chứng – Các biến chứng của ống thông động mạch lưu bao gồm co thắt mạch, huyết khối, thuyên tắc khí hoặc hạt nhỏ, tiêm nhầm thuốc vào động mạch, bóc tách hoặc hình thành túi phình giả, mất máu do thủ thuật, và nhiễm trùng tại chỗ hoặc toàn thân (bảng 3, bảng 4 và bảng 5). (Xem mục ‘Biến chứng’ ở trên.)
Duy trì – Chúng tôi khuyến cáo không thay thế ống thông động mạch định kỳ (Mức độ 2C). Thay vào đó, chúng tôi dựa vào đánh giá lâm sàng kỹ lưỡng tại vị trí đặt ống và tình trạng bệnh nhân để quyết định nhu cầu rút hoặc thay thế ống thông. Tốt nhất không nên lưu ống thông động mạch đùi quá năm ngày và ống thông động mạch tại các vị trí khác quá bảy ngày. Cần rút bỏ ống thông động mạch khi việc sử dụng chúng không còn thiết yếu đối với việc chăm sóc bệnh nhân. Chúng tôi thay thế các bộ chuyển đổi áp lực, hệ thống dây nối và dung dịch tráng rửa sau mỗi 96 giờ. (Xem mục ‘Duy trì ống thông động mạch lưu’ ở trên.)
Rút ống – Kỹ thuật vô khuẩn được tuân thủ trong quá trình rút ống thông động mạch. Thời gian ép cầm máu tối ưu phụ thuộc vào vị trí đặt ống, kích thước ống thông và tình trạng đông máu của bệnh nhân. (Xem mục ‘Rút ống thông động mạch’ ở trên.)