GIỚI THIỆU
Hội chứng ly giải u (TLS – Tumor Lysis Syndrome) là một tình trạng cấp cứu ung thư, phát sinh do quá trình ly giải ồ ạt tế bào u, giải phóng một lượng lớn kali, phosphate và acid nucleic vào hệ tuần hoàn. Quá trình dị hóa acid nucleic thành acid uric gây tăng acid uric máu. Sự gia tăng đáng kể nồng độ acid uric bài tiết qua thận có thể dẫn đến lắng đọng tinh thể acid uric trong ống thận, đồng thời gây co mạch thận, làm suy yếu cơ chế tự điều hòa, giảm lưu lượng máu đến thận và kích hoạt phản ứng viêm, cuối cùng dẫn đến tổn thương thận cấp. Ngoài ra, tình trạng tăng phosphate máu với sự lắng đọng calcium phosphate trong ống thận cũng gây tổn thương thận cấp, và nếu tình trạng này xảy ra tại hệ thống dẫn truyền tim, nó có thể dẫn đến các rối loạn nhịp tim.
TLS thường xảy ra sau khi bắt đầu liệu pháp độc tế bào ở những bệnh nhân mắc u lympho ác tính độ ác tính cao (đặc biệt là phân nhóm Burkitt) và bệnh bạch cầu cấp dòng lympho. Tuy nhiên, TLS cũng có thể xảy ra tự phát hoặc ở các loại u khác có tốc độ tăng sinh nhanh, khối u lớn hoặc độ nhạy cao với liệu pháp độc tế bào.
Bài viết này sẽ xem xét bệnh sinh, định nghĩa, phân loại, các yếu tố nguy cơ, nguyên nhân và biểu hiện lâm sàng của hội chứng ly giải u. Các vấn đề về dự phòng và điều trị TLS, cũng như cách xử trí các bệnh lý ác tính cụ thể liên quan đến TLS, sẽ được thảo luận ở các phần khác. (Xem “Hội chứng ly giải u: Dự phòng và điều trị”, “Điều trị bệnh bạch cầu/u lympho Burkitt ở người lớn”, “Điều trị và tiên lượng bệnh bạch cầu/u lympho tế bào T ở người lớn”, “Bệnh bạch cầu cấp dòng tủy: Tổng quan các biến chứng, mục Hội chứng ly giải u” và “Điều trị bệnh bạch cầu/u lympho cấp dòng lympho ở trẻ em và thanh thiếu niên, mục Các tình trạng cấp cứu/biến chứng”.)
BỆNH SINH
Trong bối cảnh các bệnh lý ác tính có tốc độ tăng sinh cao, khối u lớn và/hoặc độ nhạy cao với điều trị, việc bắt đầu hóa trị độc tế bào, liệu pháp kháng thể ly giải tế bào, xạ trị, hoặc đôi khi chỉ đơn thuần là dùng glucocorticoid, có thể gây ra hiện tượng ly giải ồ ạt tế bào u. Với sự xuất hiện của các thuốc chống ung thư đích mới hiệu quả hoặc các phác đồ phối hợp thuốc mới, TLS hiện cũng đã được ghi nhận ở những bệnh nhân mắc các loại ung thư trước đây vốn hiếm khi liên quan đến biến chứng này. (Xem ‘Các yếu tố nguy cơ’ bên dưới.)
Quá trình này giải phóng một lượng khổng lồ các thành phần nội bào (kali, phosphate và các acid nucleic có thể chuyển hóa thành acid uric) vào hệ tuần hoàn. Các hậu quả về chuyển hóa bao gồm tăng kali máu, tăng phosphate máu, hạ calci máu thứ phát, tăng acid uric máu và tổn thương thận cấp. Nồng độ cao của cả acid uric và phosphate làm trầm trọng thêm tình trạng tổn thương thận cấp, bởi acid uric rất dễ kết tủa khi có mặt các tinh thể calcium phosphate, và ngược lại, calcium phosphate cũng dễ dàng kết tủa khi có sự hiện diện của các tinh thể acid uric.
Tăng acid uric máu
Tình trạng tăng acid uric máu là hệ quả từ quá trình dị hóa các acid nucleic purine thành hypoxanthine và xanthine, sau đó chuyển hóa thành acid uric nhờ enzyme xanthine oxidase (hình 1). Acid uric vốn là chất khó tan trong nước, đặc biệt trong môi trường thường có tính acid tại các ống xa và hệ thống ống góp của thận. Trong hội chứng ly giải u, việc sản xuất và bài tiết quá mức acid uric có thể dẫn đến sự kết tủa và lắng đọng tinh thể trong các ống thận, gây bệnh thận do acid uric cấp tính kèm theo tổn thương thận cấp. (Xem “Các bệnh lý thận do acid uric”.)
Với sự phát triển của các thuốc hạ acid uric máu hiệu quả, đặc biệt là allopurinol và rasburicase, tăng acid uric máu hiện không còn là biến chứng chuyển hóa chính gây lo ngại trong hội chứng ly giải u 1,2. (Xem “Hội chứng ly giải u: Dự phòng và điều trị, mục Các thuốc hạ acid uric máu” và “Hội chứng ly giải u: Dự phòng và điều trị, mục Tác động lâm sàng”.)
Ví dụ, trong một báo cáo trên 102 bệnh nhân u lympho không Hodgkin (NHL) độ ác tính từ trung bình đến cao được hóa trị phối hợp mạnh kèm dự phòng bằng allopurinol, kết quả cho thấy có 42% bệnh nhân xuất hiện các bất thường xét nghiệm và 6% tiến triển thành hội chứng ly giải u “trên lâm sàng” 1. Khi dùng allopurinol dự phòng, nồng độ acid uric huyết thanh tăng hơn 25% ở 28 bệnh nhân; trong đó, nồng độ đỉnh vượt giới hạn trên của mức bình thường (8 mg/dL [476 micromol/L]) ở 9 bệnh nhân và vượt 15 mg/dL (893 micromol/L) ở 3 bệnh nhân, một trong số đó đã xuất hiện tổn thương thận cấp. Trong một nghiên cứu khác trên 100 bệnh nhân người lớn mắc NHL độ ác tính cao được dự phòng bằng rasburicase trong đợt hóa trị đầu tiên, tất cả bệnh nhân đều duy trì được nồng độ acid uric bình thường trong suốt quá trình điều trị, mặc dù có 11% bệnh nhân đã có tình trạng tăng acid uric máu ngay từ thời điểm chẩn đoán 3.
Tăng phosphate máu
Nồng độ phosphorus trong các tế bào ác tính cao gấp bốn lần so với tế bào bình thường. Do đó, quá trình phân hủy khối u ồ ạt thường dẫn đến tình trạng tăng phosphate máu, từ đó gây hạ calci máu thứ phát, có thể dẫn đến co cứng cơ hoặc co giật. Khi tích số giữa nồng độ calci và nồng độ phosphate (tích số calci-phosphate) vượt quá 60 mg2/dL2, nguy cơ lắng đọng calcium phosphate trong ống thận sẽ tăng cao, dẫn đến tổn thương thận cấp. Ngoài ra, sự lắng đọng tại tim có thể gây ra các rối loạn nhịp tim. Bệnh nhân có thể cần can thiệp bằng liệu pháp thay thế thận nếu tích số calci-phosphate đạt mức ≥ 70 mg2/dL2. (Xem “Tổng quan về nguyên nhân và điều trị tăng phosphate máu” và “Hội chứng ly giải u: Dự phòng và điều trị”.)
Kể từ khi các thuốc hạ acid uric máu được sử dụng rộng rãi, tình trạng lắng đọng calcium phosphate (vôi hóa thận) đã trở thành cơ chế chính gây tổn thương thận cấp trong hội chứng ly giải u thay vì tăng acid uric máu như trước đây 1,4,5. (Xem “Hội chứng ly giải u: Dự phòng và điều trị, mục Các thuốc hạ acid uric máu” và “Hội chứng ly giải u: Dự phòng và điều trị, mục Tác động lâm sàng”.)
Tăng xanthine niệu
Allopurinol ức chế quá trình dị hóa hypoxanthine và xanthine, dẫn đến sự gia tăng nồng độ của các chất chuyển hóa này (hình 1). Xanthine có độ hòa tan kém hơn nhiều so với acid uric; hơn nữa, việc kiềm hóa nước tiểu làm tăng độ hòa tan của xanthine kém hiệu quả hơn nhiều so với acid uric vì chỉ số pKa của xanthine cao hơn đáng kể (7,4 so với 5,8) 6.
Vì vậy, bệnh nhân gặp hội chứng ly giải u mức độ nặng đang điều trị bằng allopurinol có nguy cơ bị kết tủa xanthine trong ống thận, dẫn đến bệnh thận do xanthine hoặc hình thành sỏi xanthine 7-11. Do nồng độ xanthine huyết thanh không được đo thường quy, nên ảnh hưởng của nó đến nguy cơ tổn thương thận cấp vẫn chưa rõ ràng. Trái ngược với tác động của allopurinol, nồng độ xanthine không tăng khi sử dụng rasburicase (urate oxidase tái tổ hợp) – loại thuốc hiện được ưu tiên cho hầu hết bệnh nhân có nguy cơ cao bị hội chứng ly giải u. Rasburicase thúc đẩy quá trình thoái hóa acid uric thành allantoin, một hợp chất tan tốt hơn nhiều trong nước. Tuy nhiên, ở những bệnh nhân thiếu hụt enzyme glucose-6-phosphate dehydrogenase (G6PD), hydro peroxide – một sản phẩm phụ của quá trình phân hủy acid uric – có thể gây ra methemoglobin máu và trong các trường hợp nghiêm trọng là thiếu máu tán huyết. Vì lý do này, rasburicase được chống chỉ định ở những bệnh nhân thiếu hụt G6PD. (Xem “Hội chứng ly giải u: Dự phòng và điều trị, mục Rasburicase”.)
BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
Các triệu chứng liên quan đến hội chứng ly giải u phần lớn phản ánh những rối loạn chuyển hóa đi kèm (tăng kali máu, tăng phosphate máu và hạ calci máu). Các triệu chứng này bao gồm buồn nôn, nôn, tiêu chảy, chán ăn, lờ đờ, tiểu máu, suy tim, loạn nhịp tim, co giật, chuột rút, co cứng cơ, ngất và có thể tử vong đột ngột 12.
Việc lắng đọng acid uric hoặc calcium phosphate cấp tính thường không gây ra các triệu chứng điển hình tại đường tiết niệu, mặc dù bệnh nhân có thể đau hông lưng nếu có sự hình thành sỏi bể thận hoặc sỏi niệu quản. Kết quả xét nghiệm nước tiểu kinh điển cho thấy sự hiện diện của nhiều tinh thể acid uric hoặc urate vô định hình trong nước tiểu có tính acid (hình 1), tuy nhiên đôi khi kết quả này vẫn tương đối bình thường do sự bế tắc của các nephron khiến nước tiểu từ các đơn vị này không được bài tiết ra ngoài.
ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN LOẠI
Mặc dù có sự đồng thuận chung rằng hội chứng ly giải u là tập hợp các biến chứng chuyển hóa phát sinh từ việc điều trị các khối u ác tính có tốc độ tăng sinh nhanh và nhạy cảm với thuốc, nhưng cho đến nay vẫn có tương đối ít nỗ lực nhằm định nghĩa cụ thể hội chứng này 13,14. Hệ thống phân loại Hande-Garrow năm 1993 đã phân biệt giữa hội chứng ly giải u trên xét nghiệm và hội chứng ly giải u trên lâm sàng trong vòng bốn ngày kể từ khi bắt đầu điều trị ung thư, nhưng hệ thống này lại chưa tính đến những bệnh nhân đã có chỉ số xét nghiệm bất thường từ trước khi điều trị hoặc những người phát triển các bất thường chuyển hóa ở thời điểm muộn hơn 1.
Định nghĩa Cairo-Bishop
Định nghĩa Cairo-Bishop, được đề xuất vào năm 2004, đã đưa ra các tiêu chuẩn xét nghiệm cụ thể để chẩn đoán hội chứng ly giải u cả tại thời điểm nhập viện và trong vòng bảy ngày sau khi điều trị 14. Định nghĩa này cũng kết hợp một hệ thống phân độ để giúp xác định mức độ nghiêm trọng của hội chứng.
Hội chứng ly giải u trên xét nghiệm được xác định khi có từ hai giá trị huyết thanh bất thường trở lên (hoặc giá trị vượt quá giới hạn trên của mức bình thường [ULN], hoặc tăng 25% so với giá trị nền), như được nêu trong bảng (bảng 1), xuất hiện trong vòng ba ngày trước hoặc bảy ngày sau khi bắt đầu hóa trị, trong bối cảnh bệnh nhân đã được bù dịch đầy đủ (có hoặc không kèm kiềm hóa nước tiểu) và sử dụng thuốc hạ acid uric máu.
Hội chứng ly giải u trên lâm sàng được xác định khi thỏa mãn các tiêu chuẩn của hội chứng ly giải u trên xét nghiệm cộng với một hoặc nhiều dấu hiệu sau mà không thể quy trực tiếp hoặc có khả năng do tác nhân điều trị gây ra: nồng độ creatinine huyết thanh tăng (≥1,5 lần ULN), loạn nhịp tim/tử vong đột ngột, hoặc co giật.
Hệ thống phân độ
Hệ thống phân độ mức độ nghiêm trọng của hội chứng ly giải u (thang điểm từ 0 đến 5) áp dụng cho các bệnh nhân có hội chứng ly giải u trên xét nghiệm, dựa trên mức độ tăng creatinine huyết thanh, sự hiện diện và loại loạn nhịp tim, cũng như sự hiện diện và mức độ nghiêm trọng của các cơn co giật (bảng 2). Hệ thống phân độ này hữu ích hơn nhiều so với phiên bản sửa đổi gần đây nhất của “Bộ tiêu chí thuật ngữ chung về các biến cố bất lợi” (Common Terminology Criteria for Adverse Events – phiên bản 4.03) do Viện Ung thư Quốc gia (NCI) ban hành. Tiêu chí của NCI chỉ phân độ hội chứng ly giải u ở mức độ 3 (có xuất hiện), độ 4 (có hậu quả đe dọa tính mạng; cần can thiệp khẩn cấp) hoặc độ 5 (tử vong) 15.
Phân loại Cairo-Bishop đã được Nhóm Ung thư Trẻ em (Children’s Oncology Group) áp dụng trong các phác đồ điều trị u lympho giai đoạn tiến triển, đồng thời cũng được một hội đồng chuyên gia quốc tế thông qua để xây dựng các hướng dẫn dựa trên bằng chứng cho việc dự phòng và điều trị hội chứng ly giải u ở cả trẻ em và người lớn 12,16 (xem “Hội chứng ly giải u: Dự phòng và điều trị” và “Hội chứng ly giải u: Dự phòng và điều trị, mục Tác động lâm sàng”). Trong một bài tổng quan, Howard và cộng sự đề xuất rằng cần có sự hiện diện đồng thời của từ hai bất thường xét nghiệm trở lên để xác định hội chứng ly giải u trên xét nghiệm, và bất kỳ tình trạng hạ calci máu có triệu chứng nào cũng nên được xem là hội chứng ly giải u trên lâm sàng 17.
CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ
Nguy cơ xảy ra hội chứng ly giải u là cao nhất ở những bệnh nhân điều trị các bệnh lý ác tính huyết học, tuy nhiên mức độ nguy cơ không đồng nhất giữa các rối loạn này (bảng 3).
Một số yếu tố nội tại liên quan đến khối u làm tăng nguy cơ này, bao gồm 1,12,14,16-20:
- Tốc độ tăng sinh tế bào u cao.
- Độ nhạy của bệnh lý ác tính với hóa trị.
- Khối u lớn (bulky disease), thể hiện qua kích thước đường kính >10 cm và/hoặc số lượng bạch cầu >50.000/microL, nồng độ lactate dehydrogenase (LDH) huyết thanh trước điều trị cao gấp hơn hai lần giới hạn trên của mức bình thường, có tình trạng thâm nhiễm cơ quan hoặc tổn thương tủy xương.
Ngoài ra còn có các đặc điểm lâm sàng làm tăng khả năng phát triển hội chứng ly giải u 1,12,14,16,17,19:
- Tăng acid uric máu (acid uric huyết thanh >7,5 mg/dL [446 micromol/L]) hoặc tăng phosphate máu (phosphate huyết thanh >4,5 mg/dL [1,44 mmol/L]) từ trước khi điều trị.
- Bệnh thận có từ trước hoặc đang tiếp xúc với các độc chất gây tổn thương thận.
- Thiểu niệu và/hoặc nước tiểu có tính acid.
- Giảm thể tích tuần hoàn hoặc bù dịch không đầy đủ trong quá trình điều trị.
Tầm quan trọng của tình trạng suy giảm chức năng thận như một yếu tố nguy cơ của hội chứng ly giải u đã được minh chứng trong một loạt 102 bệnh nhân u lympho không Hodgkin (NHL) độ ác tính cao 1. Những bệnh nhân có mức creatinine huyết thanh nền >1,5 mg/dL (133 micromol/L) có tỷ lệ mắc hội chứng ly giải u trên lâm sàng cao hơn rõ rệt so với những người có mức creatinine huyết thanh thấp hơn (36% so với 2%).
Các bệnh lý ác tính huyết học
Các khối u thường xuyên liên quan nhất đến hội chứng ly giải u là các u lympho không Hodgkin (NHL) có tính xâm lấn cao và bệnh bạch cầu cấp dòng lympho (ALL), đặc biệt là u lympho/bệnh bạch cầu Burkitt (bảng 3) 1,18,21-25, cũng như bệnh bạch cầu mạn dòng lympho (CLL).
Tỷ lệ mắc hội chứng ly giải u ở những bệnh nhân này được thể hiện qua các báo cáo sau:
- Trong loạt ca nghiên cứu đã dẫn ở trên trên 102 người lớn mắc NHL độ ác tính cao, hầu hết được dự phòng chỉ bằng allopurinol, tỷ lệ mắc hội chứng ly giải u chung là 42%, và 6% tiến triển thành hội chứng ly giải u “trên lâm sàng” 1. Trong loạt ca này, hội chứng ly giải u trên lâm sàng được định nghĩa là khi kali huyết thanh >6 mEq/L, creatinine huyết thanh >2,5 mg/dL [221 micromol/L], calci huyết thanh ≤6 mg/dL [1,5 mmol/L], xuất hiện loạn nhịp tim đe dọa tính mạng hoặc tử vong đột ngột.
- Tỷ lệ mắc hội chứng ly giải u cũng được đánh giá trong một loạt trẻ em mắc u lympho/bệnh bạch cầu Burkitt giai đoạn tiến triển tham gia vào hai thử nghiệm đa trung tâm 18. Tất cả đều được điều trị bằng phương pháp bù dịch tĩnh mạch tích cực, kiềm hóa nước tiểu (pH nước tiểu 7) và allopurinol, nhưng chưa dùng rasburicase vì thuốc chưa có sẵn tại thời điểm đó. Trong số 218 trẻ có thể đánh giá mắc bệnh bạch cầu Burkitt (ALL) hoặc u lympho Burkitt giai đoạn III/IV có nồng độ LDH huyết thanh trước điều trị cao (≥500 U/L [8,3 kat/L]), hội chứng ly giải u (trên xét nghiệm và/hoặc trên lâm sàng) xảy ra ở 16,1% và tình trạng vô niệu ở 9,2%.
Các bệnh lý ác tính huyết học khác ít liên quan đến hội chứng ly giải u hơn (trước kỷ nguyên y học chính xác hiện nay) bao gồm các u lympho có tính xâm lấn cao khác như u lympho tế bào lớn thoái hóa, ALL tế bào T hoặc tế bào B, bệnh bạch cầu cấp dòng tủy (AML), CLL và các rối loạn tế bào plasma, bao gồm đa u tủy xương và u tương bào đơn độc 1,19,26-30.
Tỷ lệ mắc hội chứng ly giải u trong AML đã được đề cập trong một loạt 772 bệnh nhân người lớn tại một cơ sở nhận hóa trị liệu tấn công từ năm 1980 đến 2002 19. Các biện pháp dự phòng bao gồm bù dịch tĩnh mạch và dùng allopurinol. Nhìn chung, 130 bệnh nhân (17%) đã phát triển hội chứng ly giải u (5% lâm sàng, 12% xét nghiệm, theo định nghĩa Cairo-Bishop nêu trên). Trong phân tích đa biến, các kết quả xét nghiệm trước điều trị sau đây là các yếu tố nguy cơ độc lập đối với hội chứng ly giải u: LDH huyết thanh cao hơn giá trị bình thường của phòng xét nghiệm, creatinine huyết thanh ≥1,4 mg/dL (124 micromol/L), acid uric huyết thanh trước điều trị >7,5 mg/dL (446 micromol/L) và số lượng bạch cầu ≥25.000/microL. Bốn yếu tố này đã được sử dụng để xây dựng hệ thống tính điểm nhằm dự đoán sự phát triển của hội chứng ly giải u trong AML. (Xem ‘Phân tầng nguy cơ trong bệnh bạch cầu cấp’ bên dưới.)
Hầu hết các trường hợp hội chứng ly giải u ở bệnh nhân mắc bệnh ác tính huyết học đều theo sau quá trình điều trị bằng hóa trị độc tế bào phối hợp. Tuy nhiên, hội chứng ly giải u cũng đã được mô tả trong các báo cáo ca bệnh khi chỉ dùng glucocorticoid đơn thuần ở bệnh nhân NHL và ALL 31,32, với các kháng thể đơn dòng trị liệu (chủ yếu là rituximab ở bệnh nhân NHL độ ác tính cao 22-24 nhưng cũng có bortezomib trong đa u tủy xương 29,30), với imatinib cho bệnh bạch cầu dòng tủy mạn 33, với venetoclax cho CLL hoặc AML, và với xạ trị đơn thuần cho NHL và ALL 25,34,35.
Sự xuất hiện của các thuốc chống ung thư đích hiệu quả, được sử dụng đơn lẻ hoặc kết hợp với các tác nhân độc tế bào thông thường, đã dẫn đến sự gia tăng tần suất và mức độ nghiêm trọng của hội chứng ly giải u trong các bệnh ung thư huyết học mà trước đây hiếm khi liên quan đến biến chứng này 36, bao gồm:
- Venetoclax, một chất ức chế BCL-2 được dùng cho CLL và AML. (Xem “Điều trị bệnh bạch cầu mạn dòng lympho tái phát hoặc kháng trị, mục Các chất ức chế BCL2: Venetoclax” và “Bệnh bạch cầu cấp dòng tủy: Quản lý người lớn không đủ điều kiện y tế, mục HMA kết hợp với venetoclax”.)
- Obinutuzumab (kháng thể đơn dòng kháng CD20), được phê duyệt cho u lympho tế bào B lớn lan tỏa tái phát hoặc kháng trị. (Xem “U lympho tế bào B lớn lan tỏa (DLBCL): Nghi ngờ tái phát lần đầu hoặc bệnh kháng trị ở bệnh nhân đủ điều kiện y tế”.)
- Liệu pháp tế bào T mang thụ thể kháng nguyên khảm (CAR-T) cho bệnh lý ác tính dòng lympho 37.
Trong một số trường hợp (ví dụ: venetoclax cho CLL), chiến lược tăng liều dần dần theo từng bước đã được sử dụng thành công nhằm nỗ lực giảm nguy cơ mắc hội chứng ly giải u 38-40. (Xem “Điều trị bệnh bạch cầu mạn dòng lympho tái phát hoặc kháng trị, mục Các chất ức chế BCL2: Venetoclax”.)
Các khối u đặc
Hội chứng ly giải u hiếm khi được mô tả sau khi điều trị các khối u đặc không phải nguồn gốc huyết học 20,41. Các bệnh lý này bao gồm ung thư vú 42-44, ung thư biểu mô tế bào nhỏ (phần lớn liên quan đến phổi) 20,42, u nguyên bào thần kinh 42, các khối u tế bào mầm 20,45, u nguyên bào tủy 20, sarcoma 20,46, ung thư buồng trứng 47,48, ung thư biểu mô tế bào vảy âm hộ 49, ung thư đại trực tràng di căn 50, ung thư biểu mô đường niệu 51, các khối u mô đệm đường tiêu hóa 52, u hắc tố 20, ung thư biểu mô tế bào gan 20,53; ung thư biểu mô tế bào thận và sarcoma mô mềm được điều trị bằng pazopanib 54,55; ung thư tuyến giáp thể tủy được điều trị bằng selpercatinib 56; và ung thư tuyến tiền liệt 57.
Các tác nhân từng được ghi nhận liên quan đến hội chứng ly giải u bao gồm docetaxel (đặc biệt trong trường hợp bệnh lan rộng hoặc khối u lớn); pazopanib – một chất ức chế tyrosine kinase liên kết mạnh với albumin – từng gây ra hội chứng ly giải u ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào thận sáng màu có nồng độ albumin huyết thanh thấp; và selpercatinib, được sử dụng cho ung thư tuyến giáp thể tủy 55,57-59.
Những bệnh nhân có nguy cơ cao phát triển hội chứng ly giải u (ví dụ: khối u phát triển nhanh, khối u lớn, suy thận, thiếu hụt thể tích tuần hoàn, tăng acid uric máu) cần được theo dõi sát sao trước và trong quá trình điều trị, đồng thời phải điều chỉnh tình trạng thiếu hụt thể tích và hạ nồng độ acid uric máu cao trước khi bắt đầu dùng docetaxel.
Hội chứng ly giải u tự phát
Tình trạng tổn thương thận cấp tự phát liên quan đến tăng acid uric máu rõ rệt trước khi bắt đầu điều trị đã được mô tả trong các trường hợp u lympho không Hodgkin và bệnh bạch cầu cấp 21,26,60,61, và ở ít nhất một bệnh nhân mắc ung thư vú thể viêm 62. Tỷ lệ mắc thực tế của hội chứng này rất khó xác định. Trong một loạt 33 bệnh nhân mắc u lympho không Hodgkin tiến triển hoặc tiến triển rất nhanh, có ba bệnh nhân bị tăng acid uric máu rõ rệt (nồng độ acid uric huyết tương >17 mg/dL [1012 micromol/L]) và tổn thương thận cấp cần chạy thận nhân tạo trước khi bắt đầu hóa trị 21.
Điều thú vị là hội chứng ly giải u tự phát thường liên quan đến tăng acid uric máu nhưng lại thường không kèm theo tăng phosphate máu. Giả thuyết đặt ra là các khối u phát triển nhanh với tốc độ thay mới tế bào cao tạo ra mức acid uric huyết thanh tăng vọt do quá trình chuyển hóa nucleoprotein diễn ra ồ ạt, nhưng bản thân khối u lại có khả năng tái sử dụng lượng phosphorus được giải phóng để tái tổng hợp tế bào u mới 26. Ngược lại, hội chứng ly giải u xảy ra sau hóa trị là do sự phá hủy tế bào trong điều kiện không có sự tái hấp thu phosphorus, từ đó dẫn đến tình trạng tăng phosphate máu.
PHÂN TẦNG NGUY CƠ
Năm 2008, một hội đồng chuyên gia quốc tế đã công bố các hướng dẫn dựa trên bằng chứng về việc dự phòng và quản lý hội chứng ly giải u 12, sau đó các hướng dẫn này đã được tinh chỉnh và cập nhật 16. Một hệ thống phân tầng nguy cơ cho hội chứng ly giải u đã được đề xuất dựa trên loại bệnh lý ác tính, gánh nặng khối u, phương pháp điều trị, đáp ứng kỳ vọng với điều trị và chức năng thận (bảng 4). Liệu pháp khuyến cáo thay đổi tùy theo từng nhóm nguy cơ. Cả hệ thống phân tầng và các khuyến cáo điều trị cụ thể đều được xác định dựa trên sự đồng thuận; chưa có hệ thống nào được kiểm chứng trên một nhóm bệnh nhân được định nghĩa tiền cứu.
Nguy cơ cao
Nhóm nguy cơ cao (nguy cơ >5% mắc hội chứng ly giải u) bao gồm 16:
- Tất cả các trường hợp bệnh bạch cầu Burkitt, u lympho Burkitt giai đoạn III hoặc IV, hoặc u lympho Burkitt giai đoạn sớm có nồng độ lactate dehydrogenase (LDH) huyết thanh cao gấp hai lần giới hạn trên của mức bình thường (≥2 lần ULN) trở lên.
- Các bệnh bạch cầu cấp dòng lympho (ALL) khác có số lượng bạch cầu (WBC) ≥100.000/microL và/hoặc nồng độ LDH huyết thanh ≥2 lần ULN.
- Bệnh bạch cầu cấp dòng tủy (AML) có số lượng bạch cầu ≥100.000/microL.
- U lympho lympho bào giai đoạn III hoặc IV, hoặc u lympho lympho bào giai đoạn sớm có nồng độ LDH huyết thanh cao gấp hai lần giới hạn trên của mức bình thường (≥2 lần ULN) trở lên.
- Bệnh bạch cầu mạn dòng lympho (CLL) được điều trị bằng venetoclax có hạch bạch huyết ≥10 cm hoặc hạch bạch huyết ≥5 cm kèm số lượng tuyệt đối tế bào lympho ≥25 x 109/L, và nồng độ acid uric huyết thanh tăng cao.
- U lympho/bệnh bạch cầu tế bào T ở người lớn, u lympho tế bào B lớn lan tỏa, u lympho tế bào T ngoại biên, u lympho đã chuyển dạng, hoặc u lympho tế bào vỏ (mantle cell lymphoma) có nồng độ LDH huyết thanh trên mức ULN và có khối u lớn (bulky tumor mass).
- U lympho tế bào B lớn lan tỏa ở trẻ em giai đoạn III hoặc IV có nồng độ LDH huyết thanh ≥2 lần ULN.
- Bệnh nhân mắc bệnh ở mức nguy cơ trung bình nhưng có rối loạn chức năng thận và/hoặc có sự thâm nhiễm của khối u tại thận, hoặc có nồng độ acid uric, kali, hoặc phosphate trên mức ULN.
Theo khuyến cáo của hội đồng chuyên gia 12, chúng tôi đề nghị tất cả các bệnh nhân thuộc các nhóm nguy cơ cao này nên được bù dịch tĩnh mạch (IV) tích cực và dùng rasburicase dự phòng thay vì allopurinol trước khi bắt đầu điều trị (trừ khi bệnh nhân bị thiếu hụt glucose-6-phosphate dehydrogenase). (Xem “Hội chứng ly giải u: Dự phòng và điều trị, mục Rasburicase” và “Hội chứng ly giải u: Dự phòng và điều trị”.)
Các định nghĩa khác về nguy cơ cao cũng đã được đề xuất. Ví dụ, Hội Ung thư và Bạch cầu Trẻ em và Thanh thiếu niên Pháp phân loại trẻ em vào nhóm nguy cơ cao mắc hội chứng ly giải u nếu có một trong các tiêu chuẩn sau: số lượng bạch cầu >50.000/microL, gánh nặng khối u lớn (gan to hoặc lách to đáng kể, hạch bạch huyết hoặc khối u trung thất >5 cm), u lympho tế bào T hoặc tế bào B, ALL dòng L3 (bệnh bạch cầu Burkitt), AML, bất kỳ bệnh bạch cầu nào khác có nồng độ LDH huyết thanh >2 lần ULN, creatinine >ULN (tính theo tuổi và cân nặng), acid uric ≥300 micromol/L (nếu ≤10 tuổi) hoặc ≥350 micromol/L (nếu >10 tuổi), và nồng độ phosphorus huyết thanh >2 mmol/L 63. Họ khuyến cáo tất cả các bệnh nhân này nên nhận rasburicase với liều 0,2 mg/kg mỗi ngày trong năm ngày.
Nguy cơ trung bình
Nhóm nguy cơ trung bình (nguy cơ mắc hội chứng ly giải u từ 1 đến 5%) bao gồm 16:
- U lympho/bệnh bạch cầu tế bào T ở người lớn, u lympho tế bào B lớn lan tỏa, u lympho tế bào T ngoại biên, u lympho đã chuyển dạng hoặc u lympho tế bào vỏ có nồng độ LDH huyết thanh trên mức ULN nhưng không kèm khối u lớn.
- U lympho tế bào lớn thoái hóa ở trẻ em giai đoạn III hoặc IV có nồng độ LDH huyết thanh < 2 lần ULN.
- U lympho Burkitt giai đoạn sớm có nồng độ LDH huyết thanh < 2 lần ULN.
- Bệnh bạch cầu cấp dòng lympho (ALL) với WBC < 100.000/microL và nồng độ LDH huyết thanh < 2 lần ULN.
- Bệnh bạch cầu cấp dòng tủy (AML) với WBC từ 25.000 đến 100.000/microL hoặc AML với WBC < 25.000/microL và LDH ≥ 2 lần ULN.
- U lympho lympho bào giai đoạn sớm có nồng độ LDH huyết thanh < 2 lần ULN.
- Bệnh bạch cầu mạn dòng lympho (CLL)/u lympho tế bào lympho nhỏ (SLL) được điều trị bằng fludarabine, rituximab, lenalidomide hoặc venetoclax có hạch bạch huyết ≥ 5 cm hoặc số lượng tuyệt đối tế bào lympho ≥ 25 x 109/L, và/hoặc những bệnh nhân có số lượng bạch cầu cao (≥ 50.000/microL).
- Các khối u đặc hiếm gặp nhưng có kích thước lớn và nhạy cảm cao với hóa trị (như u nguyên bào thần kinh, ung thư tế bào mầm, ung thư phổi tế bào nhỏ).
Tuy nhiên, vẫn tồn tại sự bất đồng giữa các chuyên gia về nguy cơ tổng thể mắc hội chứng ly giải u ở bệnh nhân CLL/SLL. Một số bác sĩ lâm sàng cho rằng những bệnh nhân CLL/SLL có số lượng bạch cầu từ 10.000 đến 50.000/microL có nguy cơ tương đối thấp, bất kể phương pháp điều trị; trong khi số khác lại coi tất cả bệnh nhân CLL/SLL đều có nguy cơ nếu WBC ≥ 50.000/microL, hoặc có số lượng bạch cầu ngoại vi thấp nhưng tủy xương chứa đầy tế bào ác tính, đặc biệt là ở bệnh nhân cao tuổi có chức năng thận giới hạn. Mặc dù ban đầu được báo cáo liên quan đến fludarabine và rituximab, hiện nay đã có một số báo cáo về việc hội chứng ly giải u xảy ra sau khi điều trị bằng lenalidomide, flavopiridol hoặc venetoclax cho CLL tái phát hoặc kháng fludarabine 38,64,65. (Xem “Điều trị bệnh bạch cầu mạn dòng lympho tái phát hoặc kháng trị”.)
Tuân theo các khuyến cáo của hội đồng chuyên gia, chúng tôi thường sử dụng allopurinol thay vì rasburicase để dự phòng cho hầu hết các bệnh nhân này nếu không có tình trạng tăng acid uric máu từ trước. Một cách tiếp cận khác là sử dụng một liều đơn rasburicase 66,67. (Xem “Hội chứng ly giải u: Dự phòng và điều trị” và “Hội chứng ly giải u: Dự phòng và điều trị”.)
Việc quản lý nên được cá thể hóa dựa trên số lượng bạch cầu lưu thông, tình trạng tủy xương, chức năng thận và các phương pháp điều trị. Một số bác sĩ lâm sàng thường quy cho tất cả bệnh nhân CLL/SLL dùng allopurinol trước hóa trị ban đầu, và các phác đồ điều trị từ nhóm Cancer and Leukemia Group B (CALGB) khuyến cáo dùng allopurinol 300 mg mỗi ngày trong 14 ngày đầu hóa trị, sau đó tùy thuộc vào quyết định của bác sĩ lâm sàng. Tuy nhiên, hầu hết bệnh nhân CLL có số lượng bạch cầu từ 10.000 đến 50.000/microL có nguy cơ mắc hội chứng ly giải u tương đối thấp, và một số chuyên gia chỉ cần bù dịch và theo dõi sát sao thay vì dự phòng thường quy bằng thuốc hạ acid uric.
Chiến lược giảm khối u và tăng liều dần dần đã được sử dụng thành công trong điều trị các bệnh nhân CLL nguy cơ trung bình hoặc cao đang dùng venetoclax 68. Trong một nghiên cứu trên 80 bệnh nhân CLL nguy cơ cao chưa từng điều trị trước đó, những người nhận ibrutinib đơn trị liệu trong ba chu kỳ sau đó mới thêm venetoclax vào chu kỳ thứ tư, chỉ có ba bệnh nhân xuất hiện các bằng chứng xét nghiệm của hội chứng ly giải u 69. Đáng chú ý, ở những bệnh nhân AML, việc giảm đáng kể liều venetoclax được khuyến cáo khi dùng phối hợp với các thuốc hóa trị khác và thuốc kháng nấm nhóm azole, vốn là các chất ức chế mạnh CYP3A (bảng 5), vì việc dùng chung có thể dẫn đến nồng độ venetoclax tăng từ 7 đến 9 lần 70.
Nguy cơ thấp
Nhóm nguy cơ thấp mắc hội chứng ly giải u (nguy cơ < 1%) bao gồm 16:
- Bệnh bạch cầu cấp dòng tủy (AML) với WBC < 25.000/microL và nồng độ LDH huyết thanh < 2 lần ULN.
- CLL/SLL với WBC ≤ 50.000/microL và không được điều trị bằng fludarabine/rituximab hoặc venetoclax.
- Đa u tủy xương và bệnh bạch cầu dòng tủy mạn (CML).
- Các u lympho không Hodgkin ở người lớn khác không đáp ứng tiêu chuẩn nguy cơ cao hoặc trung bình, với nồng độ LDH huyết thanh trong giới hạn bình thường.
- Các khối u đặc khác.
Chúng tôi thường khuyến cáo bù dịch nhưng không dùng bất kỳ hình thức dự phòng nào bằng thuốc hạ acid uric hoặc thuốc gắn kết phosphate cho các bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ thấp. Điều này phù hợp với khuyến cáo của hội đồng chuyên gia về cách tiếp cận “theo dõi và chờ đợi” (watch and wait) cùng với sự giám sát chặt chẽ thay vì dự phòng thường quy cho các đối tượng này 16. (Xem “Hội chứng ly giải u: Dự phòng và điều trị, mục Dự phòng TLS”.)
Phân tầng nguy cơ trong bệnh bạch cầu cấp
Các mô hình dự đoán xác suất mắc hội chứng ly giải u ở bệnh nhân AML hoặc bệnh bạch cầu cấp dòng lympho (ALL) ở trẻ em đã được xây dựng 19,71,72. Như đã mô tả trước đó, một hệ thống tính điểm để dự đoán hội chứng ly giải u đã được phát triển và kiểm chứng trên loạt 772 bệnh nhân người lớn mắc AML được điều trị tại một cơ sở trong suốt 22 năm 19. (Xem ‘Các bệnh lý ác tính huyết học’ ở trên.)
Các bệnh nhân được chia ngẫu nhiên thành hai nhóm; mô hình tiên lượng được xây dựng ở một nhóm và kiểm chứng ở nhóm còn lại. Trong phân tích đa biến, bốn kết quả xét nghiệm trước điều trị là các yếu tố nguy cơ độc lập đối với hội chứng ly giải u: LDH huyết thanh cao hơn giá trị bình thường của phòng xét nghiệm, creatinine huyết thanh ≥ 1,4 mg/dL (124 micromol/L), acid uric huyết thanh trước điều trị > 7,5 mg/dL (446 micromol/L) và số lượng bạch cầu ≥ 25.000/microL. Phân loại theo tiêu chuẩn Pháp-Mỹ-Anh (FAB) không phải là yếu tố tiên đoán độc lập cho hội chứng ly giải u. (Xem “Bệnh bạch cầu cấp dòng tủy: Phân loại”.)
Các tác giả đã gán điểm số cho các yếu tố này và xây dựng hệ thống tính điểm để dự đoán xác suất mắc hội chứng ly giải u trên lâm sàng (bảng 6):
- 0 điểm – 0%
- 1 điểm – 1,4%
- 2 điểm – 4,1%
- 3 điểm – 11,5%
- 4 điểm – 17,8%
- 5 điểm – 36,8%
- 6 điểm – 41,7%
Các tác giả cho rằng mô hình này có thể cho phép quản lý hội chứng ly giải u thích ứng theo nguy cơ trong AML, cụ thể là chọn lọc những bệnh nhân có nguy cơ cao cần được dùng rasburicase dự phòng. Tuy nhiên, họ không đưa ra khuyến cáo cụ thể về ngưỡng điểm nào nên được dùng làm mốc cắt để lựa chọn giữa rasburicase và allopurinol. Nhìn chung, các mô hình này khá phức tạp và thiếu các hướng dẫn chuẩn hóa về chăm sóc hỗ trợ. Chúng tôi thường ưu tiên hệ thống phân tầng nguy cơ do hội đồng chuyên gia đồng thuận đề xuất (bảng 4) 12. Việc dự phòng và điều trị hội chứng ly giải u dựa trên ước tính nguy cơ được thảo luận chi tiết ở phần khác. (Xem “Hội chứng ly giải u: Dự phòng và điều trị”.)
TÓM TẮT
Mô tả – Hội chứng ly giải u là một tình trạng cấp cứu ung thư gây ra bởi sự ly giải ồ ạt tế bào u, giải phóng một lượng lớn kali, phosphate và acid uric vào hệ tuần hoàn. Việc lắng đọng các tinh thể acid uric và/hoặc calcium phosphate trong ống thận có thể dẫn đến tổn thương thận cấp. (Xem ‘Bệnh sinh’ ở trên.)
Biểu hiện – Các dấu hiệu lâm sàng phản ánh những rối loạn chuyển hóa đi kèm (tăng kali máu, tăng phosphate máu và hạ calci máu), bao gồm buồn nôn, nôn, tiêu chảy, chán ăn, lờ đờ, tiểu máu, suy tim, loạn nhịp tim, co giật, chuột rút, co cứng cơ, ngất và có thể tử vong đột ngột. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở trên.)
Định nghĩa – Định nghĩa Cairo-Bishop thường được sử dụng cho hội chứng ly giải u (xem ‘Định nghĩa Cairo-Bishop’ ở trên):
- Hội chứng ly giải u trên xét nghiệm – Có ≥2 đặc điểm chuyển hóa chính (tăng acid uric máu, tăng kali máu, tăng phosphate máu, hạ calci máu (bảng 1)) xuất hiện trong vòng ba ngày trước hoặc bảy ngày sau khi bắt đầu hóa trị.
- Hội chứng ly giải u trên lâm sàng – Thỏa mãn tiêu chuẩn hội chứng ly giải u trên xét nghiệm cộng với ≥1 trong các dấu hiệu sau mà không do tác nhân điều trị gây ra: creatinine huyết thanh tăng (≥1,5 lần giới hạn trên của mức bình thường), loạn nhịp tim/tử vong đột ngột, hoặc co giật.
Phân độ hội chứng ly giải u – Dựa trên mức độ nghiêm trọng của hội chứng ly giải u trên lâm sàng, như được mô tả trong bảng này (bảng 2). (Xem ‘Hệ thống phân độ’ ở trên.)
Các yếu tố nguy cơ – Hội chứng ly giải u thường gặp nhất ở những bệnh nhân mắc các u lympho độ ác tính cao (ví dụ: u lympho Burkitt) và bệnh bạch cầu cấp dòng lympho/u lympho lympho bào sau khi bắt đầu liệu pháp độc tế bào, mặc dù tình trạng này cũng có thể xảy ra tự phát và/hoặc ở các loại u khác có tốc độ tăng sinh nhanh, khối u lớn, hoặc độ nhạy cao với liệu pháp độc tế bào. (Xem ‘Các yếu tố nguy cơ’ ở trên.)
Sự phát triển của nhiều tác nhân nhắm trúng đích đã dẫn đến các trường hợp hội chứng ly giải u ở những bệnh ung thư trước đây vốn hiếm khi liên quan đến biến chứng này (ví dụ: ung thư đại tràng, bệnh bạch cầu mạn dòng lympho, bệnh bạch cầu dòng tủy mạn, các bệnh lý ác tính dòng lympho).
Phân tầng nguy cơ – Phân tầng nguy cơ dựa trên các yếu tố liên quan đến khối u và bệnh nhân có thể giúp đánh giá nguy cơ mắc hội chứng ly giải u, từ đó hỗ trợ chọn lựa phác đồ điều trị (bảng 4). Một cách tiếp cận thuật toán đơn giản để phân tầng nguy cơ cho hội chứng ly giải u được trình bày trong hình (thuật toán 1) 17. (Xem ‘Phân tầng nguy cơ’ ở trên.)