Hamartoma lách được chẩn đoán và điều trị bằng phẫu thuật nội soi cắt lách kết hợp tiếp cận qua đường mổ tối thiểu trên xương mu

Splenic Hamartoma Diagnosed and Treated by Laparoscopic Splenectomy Associated With a Minimal Suprapubic Approach

Hikaru Ohtani; Tomohide Hori; Shigeki Nakayama; Satoru Umegae; Takao Iwanaga; Ryutaro Nishikawa; Takahiro Shimoyama; Sakurako Suzuki; Shigehito Nakashima; Takayuki Yamamoto. American Journal of Case Reports. doi: 10.12659/AJCR.950597. Open access.
Ultrasonography findingsCollateral vessels were seen (A, purple arrows), and splenomegaly (143×65 mm) was observed (B). A hypoechoic splenic mass measuring 70×55 mm was detected incidentally (C, D, yellow arrows). This regularly shaped lesion involved a cystic component (C, blue arrow). The solid component showed hypervascularity with Doppler ultrasonography (E, F).
Figure 1
https://jours.isi-science.com/imageXml.php?i=amjcaserep-26-e950597-g001.jpg&idArt=950597&w=1000 Figure 1 Hình 1
Ultrasonography findingsCollateral vessels were seen (A, purple arrows), and splenomegaly (143×65 mm) was observed (B). A hypoechoic splenic mass measuring 70×55 mm was detected incidentally (C, D, yellow arrows). This regularly shaped lesion involved a cystic component (C, blue arrow). The solid component showed hypervascularity with Doppler ultrasonography (E, F).
Các phát hiện trên siêu âmGhi nhận các mạch máu tuần hoàn bàng hệ (A, mũi tên màu tím) và tình trạng lách to (143×65 mm) (B). Phát hiện tình cờ một khối u lách giảm âm kích thước 70×55 mm (C, D, mũi tên màu vàng). Tổn thương có hình dạng đều này bao gồm một thành phần dạng nang (C, mũi tên màu xanh dương). Thành phần đặc cho thấy tình trạng tăng sinh mạch trên siêu âm Doppler (E, F).
Tumor size during imaging performed 6 years prior to presentation at our hospitalThe splenic mass measured 13 mm 6 years prior to presentation at our hospital (yellow arrows). The blue arrow indicates the cystic lesion.
Figure 2
https://jours.isi-science.com/imageXml.php?i=amjcaserep-26-e950597-g002.jpg&idArt=950597&w=1000 Figure 2 Hình 2
Tumor size during imaging performed 6 years prior to presentation at our hospitalThe splenic mass measured 13 mm 6 years prior to presentation at our hospital (yellow arrows). The blue arrow indicates the cystic lesion.
Kích thước khối u trên hình ảnh chụp 6 năm trước khi nhập viện tại bệnh viện của chúng tôiKhối u lách có kích thước 13 mm vào thời điểm 6 năm trước khi bệnh nhân đến khám tại bệnh viện của chúng tôi (mũi tên màu vàng). Mũi tên màu xanh dương chỉ tổn thương dạng nang.
Contrast-enhanced computed tomography findingsThe splenic tumor consisted of a solid component (yellow arrows) and a cystic lesion (blue arrows). Imaging clearly shows homogeneous and strong enhancement in the early phase (A, B, D, E), with prolonged strong enhancement in later phases (C, F).
Figure 3
https://jours.isi-science.com/imageXml.php?i=amjcaserep-26-e950597-g003.jpg&idArt=950597&w=1000 Figure 3 Hình 3
Contrast-enhanced computed tomography findingsThe splenic tumor consisted of a solid component (yellow arrows) and a cystic lesion (blue arrows). Imaging clearly shows homogeneous and strong enhancement in the early phase (A, B, D, E), with prolonged strong enhancement in later phases (C, F).
Các phát hiện trên chụp cắt lớp vi tính có cản quangKhối u lách bao gồm một thành phần đặc (mũi tên màu vàng) và một tổn thương dạng nang (mũi tên màu xanh dương). Hình ảnh cho thấy rõ ràng sự ngấm thuốc mạnh và đồng nhất ở thì sớm (A, B, D, E), kèm theo tình trạng ngấm thuốc mạnh kéo dài ở các thì muộn hơn (C, F).
Three-dimensional magnetic resonance imaging findingsThe estimated splenic volume was 650.7 mL with computed tomography volumetry. Collateral vessels are visible around the splenic hilum (A, B, purple arrows). In T2-weighted imaging, the solid component (yellow arrows) and cystic lesion (blue arrow) both show relatively high intensity (C).
Figure 4
https://jours.isi-science.com/imageXml.php?i=amjcaserep-26-e950597-g004.jpg&idArt=950597&w=1000 Figure 4 Hình 4
Three-dimensional magnetic resonance imaging findingsThe estimated splenic volume was 650.7 mL with computed tomography volumetry. Collateral vessels are visible around the splenic hilum (A, B, purple arrows). In T2-weighted imaging, the solid component (yellow arrows) and cystic lesion (blue arrow) both show relatively high intensity (C).
Các phát hiện trên hình ảnh cộng hưởng từ ba chiềuThể tích lách ước tính là 650.7 mL bằng phương pháp đo thể tích trên phim chụp cắt lớp vi tính. Có thể nhìn thấy các mạch máu tuần hoàn bàng hệ xung quanh rốn lách (A, B, mũi tên màu tím). Trên xung T2-weighted, cả thành phần đặc (mũi tên màu vàng) và tổn thương dạng nang (mũi tên màu xanh dương) đều cho thấy tín hiệu tăng tương đối cao (C).
Magnetic resonance imaging findingsIn T2-weighted imaging, the solid component (yellow arrows) and cystic lesion (blue arrow) both show relatively high intensity (A, B). In T1-weighted imaging gradient-echo sequences, neither the opposed-phase (C, D) nor the in-phase (E, F) show the solid component.
Figure 5
https://jours.isi-science.com/imageXml.php?i=amjcaserep-26-e950597-g005.jpg&idArt=950597&w=1000 Figure 5 Hình 5
Magnetic resonance imaging findingsIn T2-weighted imaging, the solid component (yellow arrows) and cystic lesion (blue arrow) both show relatively high intensity (A, B). In T1-weighted imaging gradient-echo sequences, neither the opposed-phase (C, D) nor the in-phase (E, F) show the solid component.
Các phát hiện trên chụp cộng hưởng từTrên xung T2-weighted, cả thành phần đặc (mũi tên màu vàng) và tổn thương dạng nang (mũi tên màu xanh dương) đều cho thấy tín hiệu tăng tương đối cao (A, B). Trên các chuỗi xung gradient-echo T1-weighted, cả thì đối pha (C, D) lẫn thì đồng pha (E, F) đều không hiển thị thành phần đặc.
T2-weighted and high b-factor diffusion-weighted magnetic resonance imaging findingsImages (b-values 0–800 s/mm2) demonstrate no positive enhancement in the solid component of the lesion (A–D, yellow arrows).The solid component also shows no signal suppression in the apparent diffusion coefficient map (E, F, yellow arrows).
Figure 6
https://jours.isi-science.com/imageXml.php?i=amjcaserep-26-e950597-g006.jpg&idArt=950597&w=1000 Figure 6 Hình 6
T2-weighted and high b-factor diffusion-weighted magnetic resonance imaging findingsImages (b-values 0–800 s/mm2) demonstrate no positive enhancement in the solid component of the lesion (A–D, yellow arrows).The solid component also shows no signal suppression in the apparent diffusion coefficient map (E, F, yellow arrows).
Các phát hiện trên hình ảnh cộng hưởng từ xung T2-weighted và xung khuếch tán với giá trị b caoCác hình ảnh (giá trị b từ 0–800 s/mm2) cho thấy không có sự tăng tín hiệu dương tính ở thành phần đặc của tổn thương (A–D, mũi tên màu vàng). Thành phần đặc cũng không có hiện tượng sụt giảm tín hiệu trên bản đồ hệ số khuếch tán biểu kiến (E, F, mũi tên màu vàng).
Initial surgical proceduresAn incision was created in the umbilicus for the camera port, and 3 working ports were placed (A). A large splenic tumor is visible intraoperatively (B–E, yellow arrows). The splenic artery (SA) and splenic vein (SV) were both skeletonized distally (B, C). To control intraoperative bleeding from the spleen and to shrink the spleen for subsequent removal through the abdominal wall, the SA was ligated before the SV (D, E). The spleen was mobilized from the retroabdominal space by cutting the connective tissue (F, green dotted arrows).
Figure 7
https://jours.isi-science.com/imageXml.php?i=amjcaserep-26-e950597-g007.jpg&idArt=950597&w=1000 Figure 7 Hình 7
Initial surgical proceduresAn incision was created in the umbilicus for the camera port, and 3 working ports were placed (A). A large splenic tumor is visible intraoperatively (B–E, yellow arrows). The splenic artery (SA) and splenic vein (SV) were both skeletonized distally (B, C). To control intraoperative bleeding from the spleen and to shrink the spleen for subsequent removal through the abdominal wall, the SA was ligated before the SV (D, E). The spleen was mobilized from the retroabdominal space by cutting the connective tissue (F, green dotted arrows).
Các bước phẫu thuật ban đầuMột đường rạch được tạo ở rốn để đặt cổng camera, và 3 cổng trocar thao tác đã được đặt (A). Có thể quan sát thấy một khối u lách lớn trong quá trình mổ (B–E, mũi tên màu vàng). Động mạch lách (SA) và tĩnh mạch lách (SV) đều được bóc tách mạch trần về phía ngoại vi (B, C). Để kiểm soát chảy máu trong mổ từ lách và làm xẹp lách phục vụ cho việc lấy bệnh phẩm qua thành bụng sau đó, SA đã được thắt trước SV (D, E). Lách được giải phóng khỏi khoang sau phúc mạc bằng cách cắt các tổ chức mô liên kết (F, mũi tên đứt nét màu xanh lá cây).
Additional surgical proceduresThe spleen was caught in the containment bag (A). A transverse skin incision was made cranially at the pubic bone, and the mouth of the containment bag was introduced extraperitoneally through the abdominal wall. The containment bag was opened, and the stump of the splenic vein (SV) was cut within the bag (B). Blood in the resected spleen was then removed to further shrink the spleen, and an intraperitoneal drain was placed through the port incision (C).
Figure 8
https://jours.isi-science.com/imageXml.php?i=amjcaserep-26-e950597-g008.jpg&idArt=950597&w=1000 Figure 8 Hình 8
Additional surgical proceduresThe spleen was caught in the containment bag (A). A transverse skin incision was made cranially at the pubic bone, and the mouth of the containment bag was introduced extraperitoneally through the abdominal wall. The containment bag was opened, and the stump of the splenic vein (SV) was cut within the bag (B). Blood in the resected spleen was then removed to further shrink the spleen, and an intraperitoneal drain was placed through the port incision (C).
Các bước phẫu thuật bổ sungLách được cho vào túi bệnh phẩm (A). Một đường rạch da ngang được thực hiện ở phía trên xương mu, và miệng túi bệnh phẩm được đưa ra ngoài phúc mạc qua thành bụng. Túi bệnh phẩm được mở ra, và đầu mỏm cắt của tĩnh mạch lách (SV) được cắt bên trong túi (B). Máu trong lách đã cắt bỏ sau đó được rút ra để làm xẹp lách thêm nữa, và một ống dẫn lưu trong ổ phúc mạc được đặt qua vị trí rạch đặt trocar (C).
Histopathological findingsThe splenic tumor (yellow arrows) consisted of a solid component and a cystic lesion (A, B). Histopathological findings are shown with hematoxylin and eosin staining at ×40 (C) and ×200 (D) magnification. A mixture of unorganized vascular channels and fibrotic cords of splenic red pulp-like area were clearly observed in hematoxylin and eosin stain (D).
Figure 9
https://jours.isi-science.com/imageXml.php?i=amjcaserep-26-e950597-g009.jpg&idArt=950597&w=1000 Figure 9 Hình 9
Histopathological findingsThe splenic tumor (yellow arrows) consisted of a solid component and a cystic lesion (A, B). Histopathological findings are shown with hematoxylin and eosin staining at ×40 (C) and ×200 (D) magnification. A mixture of unorganized vascular channels and fibrotic cords of splenic red pulp-like area were clearly observed in hematoxylin and eosin stain (D).
Các phát hiện về mô bệnh họcKhối u lách (mũi tên màu vàng) bao gồm một thành phần đặc và một tổn thương dạng nang (A, B). Các phát hiện mô bệnh học được hiển thị bằng phương pháp nhuộm hematoxylin và eosin ở độ phóng đại ×40 (C) và ×200 (D). Sự xuất hiện đan xen của các tiểu kênh mạch máu sắp xếp vô tổ chức và các dây xơ thuộc vùng giống tủy đỏ của lách được quan sát thấy rõ ràng trên tiêu bản nhuộm hematoxylin và eosin (D).
Show
Hide
EN – VI
VI – EN

Abstract

Tóm tắt

BACKGROUND: Splenic tumors are rare and challenging to diagnose, and laparoscopic splenectomy (LS) is useful for treatment. Splenic hamartoma is a rare benign condition that consists of disorganized normal splenic tissue, including red pulp elements, that can be asymptomatic and found incidentally.

BỐI CẢNH: U lách hiếm gặp và là một thách thức trong chẩn đoán, trong đó phẫu thuật nội soi cắt lách (LS) rất có giá trị trong điều trị. Hamartoma lách là một bệnh lý lành tính hiếm gặp, cấu thành từ các mô lách bình thường sắp xếp vô tổ chức, bao gồm các thành phần tủy đỏ, có thể không biểu hiện triệu chứng và được phát hiện tình cờ.

CASE REPORT: A 42-year-old woman underwent ultrasonography, and a 70×55 mm splenic mass was detected. The tumor was composed of a solid component and a cystic lesion, and splenomegaly was observed (size: 143 mm). Contrast-enhanced computed tomography (CT) of the solid component clearly showed homogeneous and strong enhancement in the early phase. The estimated splenic volume was 650.7 mL. Magnetic resonance imaging did not indicate malignancy. A preoperative diagnosis of splenic hamartoma was made, and LS was performed. To control intraoperative bleeding and to shrink the spleen, the splenic artery was ligated first. The spleen was caught in the containment bag, and a 50 mm transverse skin incision was made cranially at the pubic bone. The stump of the splenic vein was cut within the bag, and 30 mL of blood was removed to further shrink the spleen. Next, the extremely shrunken spleen (201 g) was removed through the small abdominal incision. Histopathologically, disorganized normal splenic tissue, including red pulp elements, were observed. The patient was discharged on postoperative day 4, and rehabilitation was accomplished by postoperative day 7. No postoperative complications were observed.

BÁO CÁO CA LÂM SÀNG: Một phụ nữ 42 tuổi được siêu âm và phát hiện một khối u lách kích thước 70×55 mm. Khối u bao gồm một phần đặc và một tổn thương dạng nang, kèm theo tình trạng lách to (kích thước: 143 mm). Chụp cắt lớp vi tính (CT) có cản quang ở phần đặc cho thấy tổn thương ngấm thuốc mạnh và đồng nhất rõ rệt trong thì sớm. Thể tích lách ước tính là 650.7 mL. Chụp cộng hưởng từ không ghi nhận dấu hiệu ác tính. Bệnh nhân được chẩn đoán trước phẫu thuật là hamartoma lách và được tiến hành phẫu thuật nội soi cắt lách. Để kiểm soát chảy máu trong mổ và làm xẹp lách, động mạch lách đã được thắt trước tiên. Lách được cho vào túi bệnh phẩm, và một đường rạch da ngang dài 50 mm được thực hiện ở phía trên xương mu. Đầu mỏm cắt của tĩnh mạch lách được cắt bên trong túi, và 30 mL máu đã được hút ra để làm xẹp lách thêm nữa. Tiếp theo, lách đã xẹp đi rất nhiều (201 g) được lấy ra qua đường rạch bụng nhỏ. Về mặt mô bệnh học, ghi nhận các mô lách bình thường sắp xếp vô tổ chức, bao gồm cả các thành phần tủy đỏ. Bệnh nhân được xuất viện vào ngày hậu phẫu thứ 4, và hoàn thành phục hồi chức năng vào ngày hậu phẫu thứ 7. Không ghi nhận biến chứng hậu phẫu nào.

CONCLUSIONS: This report highlights the rare condition of splenic hamartoma, and described the key techniques for advantageous LS.

KẾT LUẬN: Báo cáo này nhấn mạnh tình trạng hiếm gặp của hamartoma lách, đồng thời mô tả các kỹ thuật then chốt mang lại nhiều lợi thế cho phẫu thuật nội soi cắt lách.

Keywords: diagnosis, general surgery, laparoscopy, splenectomy, splenic artery

Từ khóa: chẩn đoán, ngoại tổng quát, nội soi ổ bụng, cắt lách, động mạch lách

Introduction

Đặt vấn đề

Splenic hamartoma is a rare benign condition that consists of disorganized normal splenic tissue, including red pulp elements, that can be asymptomatic and found incidentally. Cystic spaces can be present, and hemorrhage can occur spontaneously or due to trauma 1–3. Splenic solid tumors are rare 1 and pose a differential diagnostic challenge, especially as an incidental imaging finding. Generally, these rare tumors can be challenging to diagnose and differentiate 2,3.

Hamartoma lách là một bệnh lý lành tính hiếm gặp, cấu thành từ các mô lách bình thường sắp xếp vô tổ chức, bao gồm các thành phần tủy đỏ, có thể không biểu hiện triệu chứng và được phát hiện tình cờ. Các khoang dạng nang có thể xuất hiện, và tình trạng xuất huyết có thể xảy ra tự phát hoặc do chấn thương 1–3. Các khối u đặc của lách rất hiếm gặp 1 và đặt ra một thách thức trong chẩn đoán phân biệt, đặc biệt khi là một phát hiện tình cờ trên chẩn đoán hình ảnh. Nhìn chung, những khối u hiếm gặp này có thể gây khó khăn cho việc chẩn đoán và phân biệt 2,3.

The laparoscopic splenectomy (LS) was first performed in 1991 4 and became widespread in the 1990s 5. The feasibility and safety of this procedure have been verified; therefore, LS is a powerful tool for the treatment of splenic diseases, including hematological disorders and splenic solid tumors 1.

Phẫu thuật nội soi cắt lách (LS) được thực hiện lần đầu tiên vào năm 1991 4 và trở nên phổ biến vào những năm 1990 5. Tính khả thi và độ an toàn của thủ thuật này đã được xác chứng; do đó, LS là một công cụ mạnh mẽ trong điều trị các bệnh lý về lách, bao gồm các rối loạn huyết học và u đặc của lách 1.

From the viewpoint of incidence, presentation, diagnosis, clinical course, and management of splenic hamartoma, splenic hamartoma is rare benign tumor that presents a diagnostic challenge and is usually an asymptomatic incidental finding 1–3. This slow-growing tumor is commonly treated by surgery 1–4. Similar cases had been previously reported 6,7.

Xét từ góc độ tỷ lệ mắc, biểu hiện, chẩn đoán, diễn tiến lâm sàng và xử trí hamartoma lách, đây là một loại u lành tính hiếm gặp, gây thách thức cho việc chẩn đoán và thường là một phát hiện tình cờ không có triệu chứng 1–3. Khối u phát triển chậm này thường được điều trị bằng phẫu thuật 1–4. Các trường hợp tương tự cũng đã được báo cáo trước đây 6,7.

This report describes the case of a 42-year-old woman with a solitary splenic hamartoma managed with LS using anticipatory inflow cutoff, in-bag blood removal, and a minimal suprapubic approach. The imaging findings of the splenic hamartoma and our techniques in LS are provided in detail. Additionally, we discuss the key advantages of our surgical approach and provide a review of relevant literature.

Báo cáo này mô tả trường hợp một người phụ nữ 42 tuổi có hamartoma lách đơn độc được xử trí bằng LS, ứng dụng kỹ thuật chủ động cắt nguồn máu nuôi vào trước, hút máu trong túi bệnh phẩm và tiếp cận qua đường mổ tối thiểu trên xương mu. Các phát hiện hình ảnh học của hamartoma lách và kỹ thuật LS của chúng tôi sẽ được cung cấp chi tiết. Ngoài ra, chúng tôi cũng thảo luận về những ưu điểm then chốt trong phương pháp tiếp cận phẫu thuật của mình và tiến hành tổng quan các tài liệu liên quan.

Case Report

Báo cáo ca lâm sàng

A 42-year-old woman with Graves disease developed left-sided back pain and epigastric discomfort and was referred to our hospital. Conventional blood examination showed no abnormal findings. Free triiodothyronine, free thyroxine, and thyroid-stimulating hormone concentrations were within the respective normal ranges. Plain ultrasonography (US) was performed as a routine survey, and a hypoechoic mass measuring 70×55 mm in size was detected in the spleen (Figure 1). This regularly shaped mass consisted of both solid and cystic components. The solid component showed hypervascularity with Doppler US (Figure 1E, 1F), and splenomegaly was observed, at 143×65 mm. The patient had a history of acute bronchitis 6 years earlier and underwent thoracic plain computed tomography (CT) at another hospital, which retrospectively revealed a small (13 mm) splenic mass (Figure 2).

Một phụ nữ 42 tuổi có tiền sử mắc bệnh Graves xuất hiện triệu chứng đau lưng trái và khó chịu vùng thượng vị đã được chuyển tuyến đến bệnh viện của chúng tôi. Xét nghiệm máu thông thường không ghi nhận kết quả bất thường. Nồng độ triiodothyronine tự do, thyroxine tự do và hormone kích thích tuyến giáp đều nằm trong giới hạn bình thường tương ứng. Siêu âm thường quy được thực hiện như một khảo sát kiểm tra định kỳ, phát hiện một khối giảm âm kích thước 70×55 mm ở lách (Hình 1). Khối u có hình dạng đều này bao gồm cả thành phần đặc và tổn thương dạng nang. Thành phần đặc cho thấy tình trạng tăng sinh mạch trên siêu âm Doppler (Hình 1E, 1F), và ghi nhận tình trạng lách to với kích thước 143×65 mm. Bệnh nhân từng có tiền sử viêm phế quản cấp 6 năm trước và đã chụp cắt lớp vi tính (CT) ngực không cản quang tại một bệnh viện khác, khi xem xét lại phim một cách hồi cứu đã phát hiện một khối u lách nhỏ (13 mm) (Hình 2).

Plain CT at our hospital revealed that the solid component appeared as a low-density mass, similar to the findings 6 years earlier. Dynamic contrast-enhanced CT clearly showed homogeneous and strong enhancement in the early phase, with strong and prolonged enhancement in later phases (Figure 3). An accessory spleen was not observed, and collateral vessels were visible around the splenic hilum. Three-dimensional images were also obtained (Figure 4A, 4B), and the estimated splenic volume was 650.7 mL, with CT volumetry.

Chụp CT không cản quang tại bệnh viện của chúng tôi cho thấy thành phần đặc xuất hiện dưới dạng một khối giảm tỷ trọng, tương tự như các phát hiện từ 6 năm trước. Chụp CT động có cản quang cho thấy rõ ràng tổn thương ngấm thuốc mạnh và đồng nhất ở thì sớm, đồng thời ngấm thuốc mạnh và kéo dài ở các thì muộn hơn (Hình 3). Không quan sát thấy lách phụ, và có thể nhìn thấy các mạch máu tuần hoàn bàng hệ xung quanh rốn lách. Các hình ảnh tái tạo ba chiều cũng được thực hiện (Hình 4A, 4B), và thể tích lách ước tính là 650.7 mL bằng phương pháp đo thể tích trên CT.

T2-weighted magnetic resonance imaging (MRI) showed that the solid component and cystic lesion both showed relatively high intensity (Figures 4C and 5A, 5B). Neither the opposed-phase- (Figure 5C, 5D) nor the in-phase (Figure 5E, 5F) gradient-echo sequence T1-weighted images could detect the solid component. T2-weighted and high-b-value diffusion-weighted imaging (range: 0–800 s/mm2) revealed no positive enhancement in the solid component (Figure 6A–6D), and this component had no signal suppression in the apparent diffusion coefficient map (Figure 6E, 6F).

Chụp cộng hưởng từ (MRI) xung chuỗi T2-weighted cho thấy cả thành phần đặc và tổn thương dạng nang đều có tín hiệu tăng tương đối cao (Hình 4C và 5A, 5B). Cả chuỗi xung gradient-echo T1-weighted thì đối pha (opposed-phase) (Hình 5C, 5D) lẫn thì đồng pha (in-phase) (Hình 5E, 5F) đều không thể phát hiện được thành phần đặc. Hình ảnh T2-weighted và hình ảnh khuếch tán (diffusion-weighted) với giá trị b cao (khoảng: 0–800 s/mm2) cho thấy không có sự tăng tín hiệu dương tính ở thành phần đặc (Hình 6A–6D), và thành phần này không có hiện tượng sụt giảm tín hiệu trên bản đồ hệ số khuếch tán biểu kiến (ADC map) (Hình 6E, 6F).

A preoperative diagnosis of splenic hamartoma was made, although hemangioma was another possible diagnosis. Laparoscopic surgery was performed, and the port placement and skin incision are shown in Figure 7A. An incision was created in the umbilicus for the camera port, and 3 working ports were placed. Intraoperatively, a large tumor was observed in the spleen. The splenic artery and splenic vein were respectively identified using intraoperative US and then dissected and skeletonized distally (Figure 7B, 7C). To control intraoperative bleeding from the spleen and to shrink the spleen for subsequent removal through the abdominal wall, the splenic artery was ligated using a clip and then cut using laparoscopic coagulation shears (Figure 7D, 7E). Next, the splenic vein was ligated and cut. Finally, the spleen was mobilized from the retroabdominal space by cutting the connective tissue (Figure 7F) and caught in the containment bag (Figure 8A). A transverse skin incision measuring 50 mm in length was made cranially at the pubic bone (Figure 7A). The mouth of the containment bag was introduced extraperitoneally through the suprapubic incision in the abdominal wall, and the bag was subsequently opened. The stump of the splenic vein was cut within the bag, and blood in the resected spleen was removed to further shrink the spleen. A total of 30 mL of blood was removed (Figure 8B). Next, the extremely shrunken spleen (maximum original size: 143 mm) was removed through the abdominal incision. The weight of the resected specimen was 201 g, although the estimated splenic volume was 650.7 mL (approximately, 651 g). An intraperitoneal drain was placed at the left subphrenic space through the port incision (Figure 8C). The operative time was 106 min, and intraoperative blood loss was 30 mL.

Bệnh nhân được chẩn đoán trước phẫu thuật là hamartoma lách, mặc dù u mạch máu (hemangioma) là một chẩn đoán có khả năng xảy ra khác. Phẫu thuật nội soi đã được thực hiện, vị trí đặt các cổng trocar và đường rạch da được thể hiện trong Hình 7A. Một đường rạch được tạo ở rốn để đặt cổng camera, và 3 cổng trocar thao tác đã được đặt. Trong quá trình phẫu thuật, một khối u lớn được quan sát thấy ở lách. Động mạch lách và tĩnh mạch lách lần lượt được xác định bằng siêu âm trong mổ, sau đó được phẫu tích và bóc tách mạch trần về phía ngoại vi (Hình 7B, 7C). Để kiểm soát chảy máu trong mổ từ lách và làm xẹp lách nhằm phục vụ cho việc lấy bệnh phẩm qua thành bụng sau đó, động mạch lách được thắt bằng clip và sau đó được cắt bằng dao cắt siêu âm nội soi (Hình 7D, 7E). Tiếp theo, tĩnh mạch lách được thắt và cắt. Cuối cùng, lách được giải phóng khỏi khoang sau phúc mạc bằng cách cắt các tổ chức mô liên kết (Hình 7F) và được cho vào túi bệnh phẩm (Hình 8A). Một đường rạch da ngang dài 50 mm được thực hiện ở phía trên xương mu (Hình 7A). Miệng túi bệnh phẩm được đưa ra ngoài phúc mạc qua đường rạch trên xương mu ở thành bụng, và túi sau đó được mở ra. Đầu mỏm cắt của tĩnh mạch lách được cắt bên trong túi, và máu trong lách đã cắt bỏ được rút ra để làm xẹp lách thêm nữa. Tổng cộng có 30 mL máu đã được rút ra (Hình 8B). Tiếp theo, lách đã xẹp đi rất nhiều (kích thước ban đầu tối đa: 143 mm) được lấy ra qua đường rạch bụng. Trọng lượng của bệnh phẩm sau khi cắt bỏ là 201 g, mặc dù thể tích lách ước tính trước đó là 650.7 mL (khoảng 651 g). Một ống dẫn lưu trong ổ phúc mạc được đặt tại khoang dưới hoành trái qua vị trí rạch đặt trocar (Hình 8C). Thời gian phẫu thuật là 106 phút, và lượng máu mất trong mổ là 30 mL.

Macroscopically, the splenic tumor consisted of a solid component and a cystic lesion, as indicated in the preoperative imaging findings (Figure 9A, 9B). The solid component was soft on palpation. Splenic hamartoma is a rare benign condition of the spleen that consists of disorganized normal splenic tissue, including red pulp elements in sinuses and cords, without any white pulp component. The definitive diagnosis of splenic hamartoma was made histopathologically (Figure 9C, 9D).

Về mặt đại thể, khối u lách bao gồm một phần đặc và một tổn thương dạng nang, đúng như các phát hiện trên chẩn đoán hình ảnh trước phẫu thuật (Hình 9A, 9B). Thành phần đặc có mật độ mềm khi sờ nắn. Hamartoma lách là một bệnh lý lành tính hiếm gặp của lách, cấu thành từ các mô lách bình thường sắp xếp vô tổ chức, bao gồm các thành phần tủy đỏ trong các xoang và dây lách, mà không có bất kỳ thành phần tủy trắng nào. Chẩn đoán xác định hamartoma lách được thiết lập bằng mô bệnh học (Hình 9C, 9D).

The patient was discharged on postoperative day 4, and rehabilitation was accomplished by postoperative day 7. Postoperatively, the maximum platelet count was 39×104/μL, and the patient received a pneumococcal vaccination (Prevenar; Pfizer Inc, NY, NY, USA). No hemorrhage, thrombosis, or infections were observed, postoperatively, and the patient was in good health 1 year after laparoscopic surgery.

Bệnh nhân được xuất viện vào ngày hậu phẫu thứ 4, và việc phục hồi chức năng hoàn thành vào ngày hậu phẫu thứ 7. Sau phẫu thuật, số lượng tiểu cầu tối đa là 39×104/μL, và bệnh nhân đã được tiêm vắc-xin phế cầu khuẩn (Prevenar; Pfizer Inc, NY, NY, USA). Không quan sát thấy tình trạng xuất huyết, huyết khối hoặc nhiễm trùng sau mổ, và bệnh nhân có sức khỏe tốt vào thời điểm 1 năm sau phẫu thuật nội soi.

Discussion

Bàn luận

In this article, we showed image findings of our patient in detail, and demonstrated our technical approach to improve the advantages of LS, though case reports always have the limitation of study.

Trong bài viết này, chúng tôi đã trình bày chi tiết các phát hiện hình ảnh của bệnh nhân, đồng thời chứng minh phương pháp tiếp cận kỹ thuật của mình nhằm tối ưu hóa các ưu điểm của LS, mặc dù các báo cáo ca lâm sàng luôn có những hạn chế nhất định trong nghiên cứu.

Solitary splenic masses are rare, and most are eventually diagnosed as malignant tumors, including non-Hodgkin lymphoma. The most common benign lesion is inflammatory pseudotumor 1. In our case, homogeneous strong enhancement of the solid component in the early phase of dynamic contrast-enhanced CT was observed, and MRI findings did not suggest malignancy. Thus, we made a preoperative diagnosis of splenic hamartoma. Regarding the therapeutic strategy, in similar cases, the presence of an accessory spleen should be carefully checked during imaging before LS 8,9.

Các khối u lách đơn độc rất hiếm gặp, và hầu hết cuối cùng được chẩn đoán là u ác tính, bao gồm cả u lympho không Hodgkin. Tổn thương lành tính phổ biến nhất là u giả viêm 1. Trong trường hợp của chúng tôi, đã quan sát thấy sự ngấm thuốc mạnh đồng nhất của thành phần đặc ở thì sớm của chụp CT động có cản quang, và các phát hiện trên MRI không gợi ý tính chất ác tính. Vì vậy, chúng tôi đã đưa ra chẩn đoán trước phẫu thuật là hamartoma lách. Về chiến lược điều trị, trong các trường hợp tương tự, sự hiện diện của lách phụ cần được kiểm tra cẩn thận trên chẩn đoán hình ảnh trước khi tiến hành LS 8,9.

Although adequate therapeutic strategy of splenic hamartoma should be made based on definitive diagnosis, establishing such a diagnosis for this rare splenic tumor can be challenging for physicians in gastroenterology and general surgery 1–3. LS is considered an adequate treatment for splenic hamartoma and a strong tool for making definitive diagnosis based on histopathological assessment 1,5.

Mặc dù chiến lược điều trị thích hợp cho hamartoma lách cần dựa trên chẩn đoán xác định, việc thiết lập chẩn đoán như vậy cho khối u lách hiếm gặp này có thể là một thách thức đối với các bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa và ngoại tổng quát 1–3. LS được xem là một phương pháp điều trị thích hợp cho hamartoma lách và là một công cụ mạnh mẽ để đưa ra chẩn đoán xác định dựa trên đánh giá mô bệnh học 1,5.

Splenectomy was first performed for therapeutic purposes by Wells in 1887 10, and thereafter, this surgery became the criterion standard treatment in elective cases and for suitable patients 1,4. Since Delaitre and Maignien first introduced LS in 1991 4, this surgery has become widespread 5. Laparoscopic surgery has many benefits specific to this approach, with several advantages over open surgery, including shorter hospital stay, lower infection rates, reduced postoperative pain, and earlier rehabilitation 11–13. Even though LS appears to be well established 1, key points remain to increase the advantages of LS.

Phẫu thuật cắt lách lần đầu tiên được thực hiện với mục đích điều trị bởi Wells vào năm 1887 10, và từ đó về sau, cuộc phẫu thuật này đã trở thành tiêu chuẩn vàng trong điều trị cho các trường hợp mổ chương trình và trên những bệnh nhân phù hợp 1,4. Kể từ khi Delaitre và Maignien lần đầu tiên giới thiệu kỹ thuật LS vào năm 1991 4, phương pháp phẫu thuật này đã trở nên phổ biến rộng rãi 5. Phẫu thuật nội soi mang lại nhiều lợi ích đặc trưng của phương pháp tiếp cận này, với một số ưu điểm so với mổ mở bao gồm thời gian nằm viện ngắn hơn, tỷ lệ nhiễm trùng thấp hơn, giảm đau sau mổ và phục hồi chức năng sớm hơn 11–13. Ngay cả khi LS dường như đã được định hình vững chắc 1, những điểm mấu chốt vẫn cần được chú trọng để nâng cao hơn nữa các thế mạnh của LS.

In this article, we demonstrated our technical approach to improve the advantages of LS. First, to control intraoperative bleeding from the spleen and to shrink the spleen for subsequent removal through the abdominal wall, the splenic artery was ligated first, while preserving splenic drainage (ie, the splenic vein and collateral vessels) (Figure 7D, 7E). This approach of anticipatory inflow cutoff (ie, an “splenic artery first” approach) drastically shrunk the spleen. Next, blood within the spleen in the containment bag was intentionally removed via the opened stump of the splenic vein. This manipulation (ie, in-bag blood removal) further shrunk the spleen before transabdominal removal of the resected specimen (Figure 8B). Therefore, anticipatory inflow cutoff and in-bag blood removal dramatically shrunk the spleen intraoperatively, from the estimated volume of 650.7 mL (approximately 651 g) to an actual weight of 201 g. Finally, a small transverse skin incision measuring 50 mm was made cranially at the pubic bone (Figures 7A and 8C). In our case, the small transabdominal incision was sufficient for removal of the extremely shrunken spleen, which had a maximum preoperative dimension of 143 mm. Compared with a large incision, a small suprapubic incision for transabdominal removal of the resected specimen is advantageous because it leads to a shorter hospital stay, less postoperative pain, and earlier rehabilitation 11. In fact, our patient was discharged from the hospital on postoperative day 4 and returned to work on postoperative day 7. Moreover, a small suprapubic incision has cosmetic advantages because the eventual scar is fully hidden by clothing.

Trong bài viết này, chúng tôi đã chứng minh phương pháp tiếp cận kỹ thuật của mình để nâng cao các ưu điểm của LS. Đầu tiên, để kiểm soát tình trạng chảy máu trong mổ từ lách và làm xẹp lách nhằm phục vụ cho việc lấy bệnh phẩm qua thành bụng sau đó, động mạch lách được thắt trước tiên, trong khi vẫn bảo tồn đường dẫn lưu của lách (nghĩa là tĩnh mạch lách và các mạch máu bàng hệ) (Hình 7D, 7E). Phương pháp chủ động cắt nguồn máu nuôi vào trước này (nghĩa là phương pháp tiếp cận “ưu tiên động mạch lách”) đã làm lách xẹp đi đáng kể. Tiếp theo, máu bên trong lách nằm trong túi bệnh phẩm được chủ động rút ra qua đầu mỏm cắt đã mở của tĩnh mạch lách. Thao tác này (nghĩa là hút máu trong túi bệnh phẩm) giúp làm xẹp lách thêm nữa trước khi lấy bệnh phẩm đã cắt bỏ qua thành bụng (Hình 8B). Do đó, việc chủ động cắt nguồn máu nuôi vào trước và hút máu trong túi bệnh phẩm đã làm xẹp lách một cách ngoạn mục trong quá trình mổ, từ thể tích ước tính ban đầu là 650.7 mL (khoảng 651 g) xuống trọng lượng thực tế chỉ còn 201 g. Cuối cùng, một đường rạch da ngang nhỏ kích thước 50 mm được thực hiện ở phía trên xương mu (Hình 7A và 8C). Trong trường hợp của chúng tôi, đường rạch bụng nhỏ này là đủ để lấy khối lách đã xẹp đi rất nhiều, vốn có kích thước lớn nhất trước phẫu thuật là 143 mm. So với đường rạch lớn, một đường rạch nhỏ trên xương mu để lấy bệnh phẩm qua thành bụng sẽ có lợi hơn vì giúp rút ngắn thời gian nằm viện, ít đau sau mổ hơn và phục hồi chức năng sớm hơn 11. Trên thực tế, bệnh nhân của chúng tôi đã được xuất viện vào ngày hậu phẫu thứ 4 và trở lại làm việc vào ngày hậu phẫu thứ 7. Hơn nữa, một đường rạch nhỏ trên xương mu còn mang lại những ưu điểm về mặt thẩm mỹ vì vết sẹo sau cùng sẽ được che giấu hoàn toàn bởi trang phục.

The spleen is an important organ and plays a vital role in both the hematologic and immune systems 4. The spleen is the largest secondary lymphoid organ and plays an active role in homeostasis, blood filtration, and hematopoiesis. Platelet counts often increase after splenectomy 14,15, and thrombocytosis and thrombopenia can cause severe complications, such as infarction and hemorrhage 15,16. Although the platelet count after LS in our case remained within the reference range, thrombocytosis and thrombopenia should be evaluated after LS.

Lách là một cơ quan quan trọng và đóng vai trò thiết yếu trong cả hệ thống huyết học và miễn dịch 4. Lách là cơ quan lympho thứ cấp lớn nhất và tham gia tích cực vào quá trình cân bằng nội môi, lọc máu và tạo máu. Số lượng tiểu cầu thường tăng lên sau khi cắt lách 14,15, và tình trạng tăng tiểu cầu hoặc giảm tiểu cầu có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng, chẳng hạn như nhồi máu và xuất huyết 15,16. Mặc dù số lượng tiểu cầu sau LS trong trường hợp của chúng tôi vẫn nằm trong khoảng tham chiếu, việc đánh giá tình trạng tăng hay giảm tiểu cầu vẫn cần được thực hiện sau LS.

The spleen is also crucial for proper immune system function and plays an active role in cellular and humoral immunity 4. Overwhelming postoperative infections after splenectomy can progress quickly from a mild flulike illness to fulminant sepsis 17. The need to preserve as much of the spleen as possible has been documented 18,19; however, laparoscopic partial/subtotal splenectomy requires technically advanced surgical skills 18. The large tumor in our case occupied the splenic parenchyma; therefore, we did not choose partial, or subtotal, splenectomy, which is associated with a wide transection surface and high bleeding risk.

Lách cũng có ý nghĩa quyết định đối với chức năng hoạt động bình thường của hệ thống miễn dịch và đóng vai trò tích cực trong miễn dịch tế bào và miễn dịch dịch thể 4. Tình trạng nhiễm trùng tối cấp sau cắt lách có thể tiến triển nhanh chóng từ một bệnh lý nhẹ giống cúm thành nhiễm khuẩn huyết nhiễm độc nghiêm trọng 17. Việc cần thiết phải bảo tồn nhu mô lách càng nhiều càng tốt đã được ghi nhận 18,19; tuy nhiên, phẫu thuật nội soi cắt lách một phần hoặc bán phần đòi hỏi các kỹ năng phẫu thuật nâng cao và chuyên sâu 18. Khối u lớn trong trường hợp của chúng tôi đã chiếm trọn nhu mô lách; do đó, chúng tôi không lựa chọn phương pháp cắt lách một phần hoặc bán phần, vốn là những phương pháp có diện cắt rộng và nguy cơ chảy máu cao.

Splenic solid tumors are rare, and the imaging findings in our case are described in detail in this report. LS is a valuable technique for both treating splenic tumors and making a definitive diagnosis, and we present useful technical aspects to enhance the advantages of LS. We anticipate that this case report will be informative for clinicians in the field of gastrointestinal and hepatobiliary pancreatic surgery.

Các khối u đặc của lách rất hiếm gặp, và các phát hiện hình ảnh trong ca bệnh của chúng tôi đã được mô tả chi tiết trong báo cáo này. LS là một kỹ thuật có giá trị cho cả việc điều trị các khối u lách và đưa ra chẩn đoán xác định, và chúng tôi đã trình bày các khía cạnh kỹ thuật hữu ích để tăng cường các ưu thế của LS. Chúng tôi kỳ vọng rằng báo cáo ca lâm sàng này sẽ mang lại thông tin hữu ích cho các lâm sàng trong lĩnh vực phẫu thuật tiêu hóa và gan mật tụy.

Conclusions

Kết luận

This report highlights the rare condition of splenic hamartoma and describes key techniques that enhance the effectiveness of LS.

Báo cáo này nhấn mạnh tình trạng hiếm gặp của hamartoma lách và mô tả các kỹ thuật then chốt giúp nâng cao hiệu quả của phẫu thuật nội soi cắt lách (LS).

Reference

  1. Makrin V, Avital S, White I, Laparoscopic splenectomy for solitary splenic tumors: Surg Endosc, 2008; 22(9); 2009-12
  2. Riller Q, Cohen-Aubart F, Roos-Weil DSplenic lymphoma, diagnosis and treatment: Rev Med Interne, 2022; 43(10); 608-16 [in French]
  3. Carboni F, Federici O, Covello R, Solid tumor of the spleen: A challenging diagnosis: Surgery, 2022; 171(6); e25-e26
  4. Erten E, Ucaner B, Cimen S, Retrospective investigation of patients undergoing splenectomy: Our 8-year clinical experience in a single center: North Clin Istanb, 2025; 12(2); 231-38
  5. Demeure MJ, Frantzides CT, Early experience with laparoscopic splenectomy: WMJ, 1998; 97(10); 33-34
  6. Sim J, Ahn HI, Han H, Splenic hamartoma: A case report and review of the literature: World J Clin Cases, 2013; 1(7); 217-19
  7. Obeidat KA, Afaneh MW, Al-Domaidat HM, Splenic hamartoma: A case report and literature review: Am J Case Rep, 2022; 23; e937195
  8. Meng M, Choi PJK, Pydi R, Farkas DT, Evaluating the effectiveness of laparoscopic removal of an accessory spleen after a failed splenectomy for immune thrombocytopenia: Cureus, 2024; 16(7); e65876
  9. He YF, Qi SQ, Bian J, Post-splenectomy accessory spleen hyperfunction in children with hereditary spherocytosis: A rare case report and literature review: Front Pediatr, 2025; 13; 1572397
  10. Silecchia G, Boru CE, Fantini A, Laparoscopic splenectomy in the management of benign and malignant hematologic diseases: JSLS, 2006; 10(2); 199-205
  11. Samstein B, Griesemer A, Cherqui D, Fully laparoscopic left-sided donor hepatectomy is safe and associated with shorter hospital stay and earlier return to work: A comparative study: Liver Transpl, 2015; 21(6); 768-73
  12. Rescorla FJ, Laparoscopic splenectomy: Semin Pediatr Surg, 1998; 7(4); 207-12
  13. Feldman LS, Laparoscopic splenectomy: standardized approach: World J Surg, 2011; 35(7); 1487-95
  14. Jeon C, Sung K, Cho J, A case report of postsplenectomy reactive thrombocytosis leading to an acute myocardial infarction in a previously healthy adult without hematologic comorbidities: Medicine (Baltimore), 2025; 104(19); e42459
  15. Maehira H, Tani M, Mori H, Long-term outcomes after spleen-preserving distal pancreatectomy with splenic vessels preservation or resection: A nationwide survey of the Japanese Society of Pancreatic Surgery: Surgery, 2024; 175; 1570-79
  16. Hosoda K, Shimizu A, Kubota K, A focal extramedullary hematopoiesis of the spleen in a patient with essential thrombocythemia presenting with a complicated postoperative course: A case report: Surg Case Rep, 2021; 7(1); 33
  17. Sinwar PD, Overwhelming post splenectomy infection syndrome – review study: Int J Surg, 2014; 12(12); 1314-16
  18. Izquierdo C, García-Picazo A, Rodríguez JP, Laparoscopic subtotal splenectomy: A feasible option in the treatment of splenic metastasis: Ann Surg Oncol, 2025; 32(2); 1232-35
  19. O’Sullivan JL, Walker P, Navadgi S, Laparoscopic upper pole partial splenectomy for a complex splenic cyst with selective clamping of the magistral blood supply-A case report: J Surg Case Rep, 2025; 2025(3); rjaf183

Có thể bạn quan tâm