Can thiệp dựa trên thiết kế cá nhân hóa tại nhà để giảm tỷ lệ ngã sau đột quỵ (FAST): thử nghiệm ngẫu nhiên
Home based, tailored intervention to reduce rate of falls after stroke (FAST): randomised trial
Đừng để vàng rơi!
Summary: This randomised trial of 370 stroke survivors evaluated a 6-month multidisciplinary, home-based, tailored intervention (FAST) compared to usual care. At 12 months, the intervention group showed a significant 33% reduction in the rate of falls compared to the control group. Significant improvements were also observed in community participation, self-efficacy, mobility, and balance, supporting the intervention’s role in fall prevention.
Tóm tắt: Thử nghiệm ngẫu nhiên trên 370 người sống sót sau đột quỵ này đánh giá một can thiệp đa chuyên khoa, tại nhà, được cá nhân hóa (FAST) trong 6 tháng so với chăm sóc thông thường. Sau 12 tháng, nhóm can thiệp cho thấy mức giảm tỷ lệ ngã đáng kể là 33% so với nhóm đối chứng. Những cải thiện đáng kể cũng được quan sát thấy ở sự tham gia vào cộng đồng, tính tự hiệu quả, khả năng vận động và sự thăng bằng, củng cố vai trò của can thiệp trong việc ngăn ngừa té ngã.
Clinical bottom line: A multidisciplinary, home-based, tailored intervention is effective in reducing the rate of falls among ambulatory stroke survivors living in the community by improving physical function and mobility.
Mấu chốt lâm sàng: Một can thiệp đa chuyên khoa, dựa trên môi trường nhà ở và được cá nhân hóa có hiệu quả trong việc giảm tỷ lệ ngã ở những người sống sót sau đột quỵ có khả năng đi lại đang sinh sống tại cộng đồng thông qua việc cải thiện chức năng thể chất và khả năng vận động.
Objective
Mục tiêu
To investigate the effectiveness of a multidisciplinary, home based, tailored intervention to reduce falls after stroke.
Điều tra hiệu quả của một can thiệp đa chuyên khoa, cá nhân hóa, dựa trên môi trường nhà ở nhằm giảm tình trạng ngã sau đột quỵ.
Design
Thiết kế
Two armed, randomised trial.
Thử nghiệm ngẫu nhiên hai nhóm.
Setting
Bối cảnh
Three states in Australia.
Ba tiểu bang tại Úc.
Participants
Người tham gia
People within 5 years of stroke, aged >50 years, discharged from formal rehabilitation to the community, and able to walk 10 m across flat ground with or without an aid. Those with moderate-to-severe receptive aphasia or walking speed >1.4 m/s without falls in the previous year were excluded.
Những người trong vòng 5 năm sau đột quỵ, độ tuổi >50, đã xuất viện sau quá trình phục hồi chức năng chính thức về cộng đồng, và có khả năng đi bộ 10 m trên nền phẳng có hoặc không có dụng cụ hỗ trợ. Những người bị mất ngôn ngữ tiếp nhận từ trung bình đến nặng hoặc có tốc độ đi bộ >1,4 m/s mà không bị ngã trong năm trước đó đã bị loại trừ.
Intervention
Can thiệp
Over 6 months, the experimental group received a habit forming functional exercise, home fall hazard reduction, and goal directed community mobility coaching; the control group received usual care. Physiotherapist and occupational therapist dyadic teams worked collaboratively to deliver the intervention.
Trong vòng 6 tháng, nhóm thử nghiệm nhận được bài tập chức năng hình thành thói quen, giảm nguy cơ ngã tại nhà và huấn luyện vận động cộng đồng theo mục tiêu; nhóm đối chứng nhận được chăm sóc thông thường. Các đội ngũ bác sĩ vật lý trị liệu và chuyên gia trị liệu nghề nghiệp đã phối hợp làm việc để thực hiện can thiệp.
Main outcome measures
Các thước đo kết quả chính
The primary outcome was rate of falls over 12 months. Secondary outcomes were proportion of participants having a fall, community participation, self-efficacy, balance, mobility, physical activity, activities of daily living, depression, and health related quality of life.
Kết quả chính là tỷ lệ ngã trong 12 tháng. Các kết quả phụ là tỷ lệ người tham gia bị ngã, sự tham gia vào cộng đồng, tính tự hiệu quả, sự thăng bằng, khả năng vận động, hoạt động thể chất, các hoạt động sinh hoạt hàng ngày, trầm cảm và chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe.
Results
Kết quả
Between August 2019 and December 2023, 370 people with stroke were enrolled. At 12 months, a significant between group difference was seen in the rate of falls in favour of the experimental group, representing a 33% reduction in falls (incidence rate ratio 0.67, 95% confidence interval (CI) 0.48 to 0.94; P=0.02). No significant between group difference was seen in the number of participants having a fall (absolute risk reduction 0.03, 95% CI -0.07 to 0.13; P=0.52). The main between group differences in favour of the experimental group were in community participation (Late Life Function and Disability Instrument disability limitation: mean difference 3% (95% CI 1% to 6%); P=0.02), self-efficacy (mean difference 0.6 (0.2 to 1.0); P=0.004), mobility (fast walking speed: mean difference 0.13 (0.06 to 0.19) m/s (P<0.001); preferred walking speed: 0.06 (0.02 to 0.10) m/s (P=0.02)), and balance (Step Test: mean difference 0.06 (0.01 to 0.12) steps/s; P=0.03).
Từ tháng 8 năm 2019 đến tháng 12 năm 2023, 370 người bị đột quỵ đã được tuyển chọn. Sau 12 tháng, một sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm đã được ghi nhận về tỷ lệ ngã nghiêng về nhóm thử nghiệm, đại diện cho mức giảm 33% các ca ngã (tỷ số tỷ suất mắc 0,67, khoảng tin cậy (KTC) 95% 0,48 đến 0,94; P=0,02). Không có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm về số người tham gia bị ngã (giảm nguy cơ tuyệt đối 0,03, KTC 95% -0,07 đến 0,13; P=0,52). Sự khác biệt chính giữa các nhóm (nghiêng về nhóm thực nghiệm) được ghi nhận ở các khía cạnh: tham gia cộng đồng (thang đo hạn chế khuyết tật thuộc Công cụ Chức năng và Khuyết tật ở người cao tuổi (LLFDI): chênh lệch trung bình là 3% (KTC 95% từ 1% đến 6%); P=0,02), khả năng tự hiệu quả (chênh lệch trung bình là 0,6 (từ 0,2 đến 1,0); P=0,004), khả năng di chuyển (tốc độ đi bộ nhanh: chênh lệch trung bình là 0,13 (từ 0,06 đến 0,19) m/s (P<0,001); tốc độ đi bộ ưu tiên: 0,06 (từ 0,02 đến 0,10) m/s (P=0,02)), và khả năng thăng bằng (nghiệm pháp Bước chân: chênh lệch trung bình là 0,06 (từ 0,01 đến 0,12) bước/giây; P=0,03).
Conclusion
Kết luận
A tailored intervention prevented falls in community dwelling, ambulatory people with stroke. The decrease in the rate of falls was underpinned by clinically worthwhile improvements in self-efficacy, mobility, community participation, and balance.
Một can thiệp cá nhân hóa đã ngăn ngừa được tình trạng ngã ở những người bị đột quỵ đang sinh sống tại cộng đồng và có khả năng đi lại. Việc giảm tỷ lệ ngã được củng cố bởi những cải thiện đáng giá về mặt lâm sàng trong tính tự hiệu quả, khả năng vận động, sự tham gia vào cộng đồng và sự thăng bằng.
Trial registration
Đăng ký thử nghiệm
Australian New Zealand Clinical Trials Registry ACTRN12619001114134.
Australian New Zealand Clinical Trials Registry ACTRN12619001114134.
Có thể bạn quan tâm
-
Vượt ra ngoài chứng ngứa liên quan đến bệnh thận mãn tính (CKD): Ngứa cận ung thư làm lộ diện bệnh CLL/SLL ở bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối (ESRD): Báo cáo ca bệnh
Beyond CKD-Associated Pruritus: Paraneoplastic Itch Revealing CLL/SLL in ESRD: A Case Report
Julia Kacperczyk; Monika Dąbek; Agnieszka Makówka; Michał Nowicki. American Journal of Case Reports. doi: 10.12659/AJCR.949787. Open access.
-
Các can thiệp tâm lý xã hội nhằm hỗ trợ phụ nữ cai thuốc lá trong thai kỳ
Psychosocial interventions for supporting women to stop smoking in pregnancy
Cochrane Database Syst Rev. 2026 Apr 21;4(4):CD001055. doi: 10.1002/14651858.CD001055.pub6.
-
Giấc ngủ và chế độ ăn có thể quan trọng hơn tập thể dục trong việc giảm thiểu tác hại sức khỏe của căng thẳng mãn tính
Sleep and diet may matter more than exercise for buffering the health toll of chronic stress