Sự đồng tồn tại của hiện tượng nhận cảm quá mức và nhận cảm dưới mức sóng R ở thiết bị ghi vòng lặp cấy dưới da: Vấn đề nhận cảm nhiều lần ở thiết bị ghi vòng lặp cấy dưới da

Coexistence of R-Wave Oversensing and Undersensing in an Implantable Loop Recorder: The Issue of Multiple Sensing in Implantable Loop Recorders

Peter Cwalina; Nicolas Rutig; Natalia Turkiewicz; Adam S. Budzikowski. American Journal of Case Reports. doi: 10.12659/AJCR.949624. Open access.
Patient’s initial electrocardiogram.
Figure 1
https://jours.isi-science.com/imageXml.php?i=amjcaserep-26-e949624-g001.jpg&idArt=949624&w=1000 Figure 1 Hình 1
Patient’s initial electrocardiogram.
Điện tâm đồ ban đầu của bệnh nhân.
(A) P- and T-wave oversensing resulting in erroneous atrial fibrillation detection. Note, R wave is undersensed in this tracing. (B) Double oversensing of P and T waves and undersensing of some R waves, resulting in erroneous atrial fibrillation detection. (C) Over-detection of some P waves (third and fourth) and under-detection of some R waves (third and fourth) resulting in erroneous atrial fibrillation detection. (D) Over-detection of some P waves with correctly sensed R waves, resulting in erroneous atrial fibrillation detection. Note, Vn annotation is noise picked up on the loop recorder. (E) Adequate sensing with correct recognition of normal sinus rhythm following reprogramming of the implantable loop recorder’s settings.
Figure 2
https://jours.isi-science.com/imageXml.php?i=amjcaserep-26-e949624-g002.jpg&idArt=949624&w=1000 Figure 2 Hình 2
(A) P- and T-wave oversensing resulting in erroneous atrial fibrillation detection. Note, R wave is undersensed in this tracing. (B) Double oversensing of P and T waves and undersensing of some R waves, resulting in erroneous atrial fibrillation detection. (C) Over-detection of some P waves (third and fourth) and under-detection of some R waves (third and fourth) resulting in erroneous atrial fibrillation detection. (D) Over-detection of some P waves with correctly sensed R waves, resulting in erroneous atrial fibrillation detection. Note, Vn annotation is noise picked up on the loop recorder. (E) Adequate sensing with correct recognition of normal sinus rhythm following reprogramming of the implantable loop recorder’s settings.
(A) Hiện tượng nhận cảm quá mức sóng P và sóng T dẫn đến phát hiện sai rung nhĩ. Lưu ý, sóng R bị nhận cảm dưới mức trong đoạn ghi này. (B) Hiện tượng nhận cảm quá mức kép sóng P và sóng T kèm nhận cảm dưới mức một số sóng R, dẫn đến phát hiện sai rung nhĩ. (C) Phát hiện quá mức một số sóng P (thứ ba và thứ tư) và phát hiện dưới mức một số sóng R (thứ ba và thứ tư) dẫn đến phát hiện sai rung nhĩ. (D) Phát hiện quá mức một số sóng P với các sóng R được nhận cảm chính xác, dẫn đến phát hiện sai rung nhĩ. Lưu ý, ký hiệu Vn là nhiễu được thiết bị ghi vòng lặp ghi nhận. (E) Nhận cảm đầy đủ với việc ghi nhận chính xác nhịp xoang bình thường sau khi lập trình lại các cài đặt của thiết bị ghi vòng lặp cấy dưới da.
Show
Hide
EN – VI
VI – EN

Abstract

Tóm tắt

BACKGROUND: Implantable loop recorders (ILRs) are important tools in diagnosing unexplained syncope and palpitations through prolonged rhythm monitoring. However, ILRs can produce false-positive arrhythmia detections, due to signal oversensing and undersensing, which can complicate clinical interpretation. Oversensing typically involves P waves, T waves, or myopotentials; however, simultaneous oversensing and undersensing of multiple waveform components is rare. We report a case of R-wave oversensing of P waves and T waves, with undersensing of QRS complexes, resulting in erroneous atrial fibrillation (AF) alerts.

BỐI CẢNH: Thiết bị ghi vòng lặp cấy dưới da (ILR) là công cụ quan trọng trong việc chẩn đoán ngất và đánh trống ngực không rõ nguyên nhân thông qua theo dõi nhịp tim kéo dài. Tuy nhiên, ILR có thể đưa ra các phát hiện dương tính giả về loạn nhịp do hiện tượng nhận cảm quá mức (oversensing) và nhận cảm dưới mức (undersensing) tín hiệu, điều này có thể làm phức tạp việc diễn giải lâm sàng. Nhận cảm quá mức thường liên quan đến sóng P, sóng T hoặc điện cơ; tuy nhiên, hiện tượng nhận cảm quá mức và nhận cảm dưới mức đồng thời của nhiều thành phần dạng sóng là rất hiếm. Chúng tôi báo cáo một trường hợp nhận cảm quá mức sóng P và sóng T dưới dạng sóng R, đi kèm với nhận cảm dưới mức các phức bộ QRS, dẫn đến các cảnh báo sai về rung nhĩ (AF).

CASE REPORT: A 73-year-old woman with hypertension and hyperlipidemia presented with recurrent lightheadedness, palpitations, and hypotension. After an unrevealing initial workup, a Biotronik Biomonitor III ILR was implanted. Within 3 months, the device flagged over 200 episodes of AF and several ventricular fibrillation episodes, despite the patient remaining asymptomatic. Careful signal review revealed a triple-sensing issue of cardiac signals, leading to misclassification of arrhythmias. The sensing filter was reprogrammed from 10 Hz to 24 Hz, resulting in elimination of false-positive detections. Following reprogramming, the patient remained asymptomatic with no further inappropriate arrhythmia alerts and did not require additional interventions.

BÁO CÁO CA LÂM SÀNG: Một phụ nữ 73 tuổi có tiền sử tăng huyết áp và tăng lipid máu đến khám vì bị chóng mặt, đánh trống ngực và tụt huyết áp tái phát. Sau khi thăm khám ban đầu không tìm ra nguyên nhân, bệnh nhân được cấy thiết bị ILR Biotronik Biomonitor III. Trong vòng 3 tháng, thiết bị đã cảnh báo hơn 200 cơn rung nhĩ và vài cơn rung thất, mặc dù bệnh nhân không có triệu chứng. Xem xét kỹ lưỡng tín hiệu đã phát hiện ra vấn đề nhận cảm ba lần (triple-sensing) đối với các tín hiệu tim, dẫn đến việc phân loại sai các chứng loạn nhịp. Bộ lọc nhận cảm đã được lập trình lại từ 10 Hz thành 24 Hz, giúp loại bỏ các phát hiện dương tính giả. Sau khi lập trình lại, bệnh nhân không còn triệu chứng, không xuất hiện thêm các cảnh báo loạn nhịp không phù hợp và không cần can thiệp gì thêm.

CONCLUSIONS: This case highlights a rare example of R-wave oversensing and undersensing by an ILR, emphasizing the importance of individualized device programming to optimize diagnostic accuracy. Additionally, it illustrates that unconventional implantation sites, such as the right parasternal region, can produce unique sensing challenges. Careful review of device signals and appropriate reprogramming can correct oversensing issues, preventing unnecessary interventions and improving patient management.

KẾT LUẬN: Ca lâm sàng này nêu bật một ví dụ hiếm gặp về hiện tượng nhận cảm quá mức và nhận cảm dưới mức sóng R của thiết bị ILR, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lập trình thiết bị theo từng cá thể để tối ưu hóa độ chính xác của chẩn đoán. Ngoài ra, trường hợp này cũng minh họa rằng các vị trí cấy thiết bị không thông thường, chẳng hạn như vùng cạnh ức phải, có thể tạo ra những thách thức nhận cảm đặc thù. Việc xem xét kỹ lưỡng các tín hiệu thiết bị và lập trình lại một cách phù hợp có thể khắc phục các vấn đề nhận cảm quá mức, tránh các can thiệp không cần thiết và cải thiện việc quản lý bệnh nhân.

Keywords: arrhythmias, cardiac, atrial fibrillation, cardiovascular diseases, electrocardiography, hypertension, syncope, ventricular fibrillation

Từ khóa: loạn nhịp tim, tim mạch, rung nhĩ, bệnh tim mạch, điện tâm đồ, tăng huyết áp, ngất, rung thất

Introduction

Đặt vấn đề

Unexplained syncope and palpitations present significant diagnostic challenges in clinical practice, often requiring extended cardiac monitoring to identify underlying arrhythmias. Traditional methods, such as Holter monitors and event recorders, offer limited diagnostic yield because of their short monitoring duration 1. Implantable loop recorders (ILRs) have emerged as a valuable tool in the prolonged evaluation of patients with unexplained syncope, particularly when initial noninvasive testing remains inconclusive. According to the 2017 American College of Cardiology/American Heart Association/Heart Rhythm Society guideline for the evaluation and management of syncope, ILRs are recommended for patients with recurrent, unexplained episodes when an arrhythmic etiology is suspected but not confirmed through conventional monitoring 2. Studies have demonstrated that ILRs significantly increase diagnostic yield compared with standard cardiac monitoring. One study showed that ILRs detected an arrhythmic cause in 73% of patients with frequent unexplained palpitations, leading to definitive treatment decisions 3.

Ngất và đánh trống ngực không rõ nguyên nhân đặt ra những thách thức chẩn đoán đáng kể trong thực hành lâm sàng, thường đòi hỏi phải theo dõi tim kéo dài để xác định tình trạng loạn nhịp nền. Các phương pháp truyền thống, chẳng hạn như máy theo dõi Holter và máy ghi sự kiện, mang lại hiệu suất chẩn đoán hạn chế do thời gian theo dõi ngắn 1. Thiết bị ghi vòng lặp cấy dưới da (ILR) đã nổi lên như một công cụ có giá trị trong việc đánh giá kéo dài ở những bệnh nhân bị ngất không rõ nguyên nhân, đặc biệt là khi các xét nghiệm không xâm lấn ban đầu không mang lại kết quả rõ ràng. Theo hướng dẫn năm 2017 của Trường Cao đẳng Tim mạch Hoa Kỳ/Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ/Hiệp hội Nhịp tim về đánh giá và quản lý ngất, ILR được khuyến cáo cho những bệnh nhân có các cơn tái phát không rõ nguyên nhân khi nghi ngờ có nguyên nhân loạn nhịp nhưng chưa được xác nhận thông qua các phương pháp theo dõi thông thường 2. Các nghiên cứu đã chứng minh rằng ILR làm tăng đáng kể hiệu suất chẩn đoán so với theo dõi tim tiêu chuẩn. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng ILR phát hiện ra nguyên nhân loạn nhịp ở 73% bệnh nhân có các cơn đánh trống ngực thường xuyên không rõ nguyên nhân, dẫn đến các quyết định điều trị dứt điểm 3.

Despite their advantages, ILRs are not without limitations. A key challenge is signal sensing, which can lead to misinterpretation of cardiac events and inappropriate arrhythmia detection. Oversensing can occur due to myopotentials, electromagnetic interference, or misclassification of physiologic signals such as prominent P or T waves. Our case highlights an instance of ILR oversensing leading to erroneous atrial fibrillation (AF) detection, emphasizing the need for individualized device programming and careful parameter adjustments to optimize diagnostic accuracy.

Mặc dù có nhiều ưu điểm, ILR không phải là không có những hạn chế. Một thách thức chính là việc nhận cảm tín hiệu, điều này có thể dẫn đến việc diễn giải sai các sự kiện tim và phát hiện loạn nhịp không phù hợp. Hiện tượng nhận cảm quá mức (oversensing) có thể xảy ra do điện cơ, nhiễu điện từ hoặc phân loại sai các tín hiệu sinh lý như sóng P hoặc sóng T nhô cao. Ca lâm sàng của chúng tôi nêu bật một trường hợp ILR nhận cảm quá mức dẫn đến phát hiện sai rung nhĩ (AF), nhấn mạnh nhu cầu lập trình thiết bị theo từng cá thể và điều chỉnh cẩn thận các thông số để tối ưu hóa độ chính xác của chẩn đoán.

Case Report

Báo cáo ca lâm sàng

Our patient was a 73-year-old woman with a history of hypertension and hyperlipidemia, who has been experiencing unexplained episodes of lightheadedness, palpitations, and hypotension for the past several months. Despite multiple evaluations, including repeated electrocardiograms (Figure 1) and ambulatory Holter monitoring, no definitive arrhythmia was identified. Echocardiography revealed no structural heart disease, and brain imaging findings were unremarkable. Due to persistent symptoms without a clear etiology, a Biotronik Biomonitor III ILR was implanted in the right parasternal region, for extended rhythm monitoring.

Bệnh nhân của chúng tôi là một phụ nữ 73 tuổi có tiền sử tăng huyết áp và tăng lipid máu, người đã gặp phải các cơn chóng mặt, đánh trống ngực và tụt huyết áp không rõ nguyên nhân trong vài tháng qua. Mặc dù đã qua nhiều lần đánh giá, bao gồm chạy điện tâm đồ nhiều lần (Hình 1) và theo dõi bằng Holter điện tâm đồ lưu động, nhưng không xác định được tình trạng loạn nhịp dứt điểm nào. Siêu âm tim cho thấy không có bệnh tim thực tổn, và kết quả chẩn đoán hình ảnh não không có gì bất thường. Do các triệu chứng kéo dài mà không có căn nguyên rõ ràng, một thiết bị ILR Biotronik Biomonitor III đã được cấy vào vùng cạnh ức phải để theo dõi nhịp tim kéo dài.

Initial parameters of the ILR included a heart rate above 150 bpm or below 30 bpm, as well as patient-initiated triggers. The sensing filter was set to a standard 10 Hz, while the identification of sudden rate drops was omitted from the detection criteria. AF sensitivity was set at a low threshold, with a detection/termination window of 16/24, detection intervals at 11, a count of 2 detection windows, RR variability limited to 12%, a confirmation time of 1 min, and use of an aggressive bigeminy rejection mode.

Các thông số ban đầu của ILR bao gồm nhịp tim trên 150 nhịp/phút hoặc dưới 30 nhịp/phút, cũng như các kích hoạt do chính bệnh nhân khởi phát. Bộ lọc nhận cảm được đặt ở mức tiêu chuẩn 10 Hz, trong khi việc xác định tình trạng tụt nhịp tim đột ngột được loại bỏ khỏi tiêu chí phát hiện. Độ nhạy phát hiện AF được đặt ở ngưỡng thấp, với cửa sổ phát hiện/chấm dứt là 16/24, khoảng thời gian phát hiện ở mức 11, số lượng gồm 2 cửa sổ phát hiện, độ biến thiên RR giới hạn ở mức 12%, thời gian xác nhận là 1 phút và sử dụng chế độ loại bỏ nhịp đôi (bigeminy) mạnh mẽ.

Three months after implantation, ILR interrogation revealed 215 episodes of AF and several episodes flagged as ventricular fibrillation, despite the patient remaining asymptomatic during these events. The cumulative AF burden was approximated at 2%. Upon further review, signal artifacts suggested erroneous oversensing of P waves (Figure 2A, Figure 2B) and T waves, with under-sensing of QRS complexes, leading to false-positive arrhythmia detections (Figure 2C, Figure 2D). Adjusting the sensing filter of the ILR from 10 Hz to 24 Hz successfully mitigated the oversensing issue (Figure 2E), preventing erroneous arrhythmia diagnoses.

Ba tháng sau khi cấy ghép, việc kiểm tra ILR đã phát hiện 215 cơn AF và vài cơn được gắn cờ là rung thất, mặc dù bệnh nhân không có triệu chứng trong các sự kiện này. Gánh nặng AF tích lũy được ước tính khoảng 2%. Sau khi xem xét kỹ hơn, các nhiễu ảnh tín hiệu cho thấy có hiện tượng nhận cảm quá mức sai lầm đối với sóng P (Hình 2A, Hình 2B) và sóng T, đi kèm với nhận cảm dưới mức các phức bộ QRS, dẫn đến các phát hiện loạn nhịp dương tính giả (Hình 2C, Hình 2D). Việc điều chỉnh bộ lọc nhận cảm của ILR từ 10 Hz sang 24 Hz đã giảm thiểu thành công vấn đề nhận cảm quá mức (Hình 2E), ngăn ngừa các chẩn đoán loạn nhịp sai lầm.

After the sensing filter of the ILR was reprogrammed, the patient continued regular follow-up visits for monitoring and rhythm assessment. After the adjustment, the ILR did not detected any further false-positive episodes, and no additional intervention was deemed necessary. No other arrythmic events were recorded.

Sau khi bộ lọc nhận cảm của ILR được lập trình lại, bệnh nhân tiếp tục các lần tái khám định kỳ để theo dõi và đánh giá nhịp tim. Sau khi điều chỉnh, ILR không phát hiện thêm bất kỳ cơn dương tính giả nào và không cần thêm can thiệp nào khác. Không có sự kiện loạn nhịp nào khác được ghi nhận.

Discussion

Bàn luận

Our case is particularly unique in that it demonstrates how standard signal sensing settings on ILRs can lead to erroneous arrhythmia detection because of simultaneous oversensing of P waves and T waves, and at times, undersensing of QRS complexes.

Ca lâm sàng của chúng tôi đặc biệt độc đáo ở chỗ nó chứng minh cách các cài đặt nhận cảm tín hiệu tiêu chuẩn trên ILR có thể dẫn đến việc phát hiện loạn nhịp sai lầm do hiện tượng đồng thời nhận cảm quá mức sóng P và sóng T, và đôi khi là nhận cảm dưới mức phức bộ QRS.

ILRs have revolutionized the evaluation of unexplained syncope by enabling continuous, long-term cardiac monitoring, thereby significantly improving diagnostic yield. The PICTURE registry found that ILRs identified an arrhythmic cause in 78% of patients with unexplained syncope, often prompting a change in clinical management 1. In alignment with this, the 2017 American College of Cardiology/American Heart Association/Heart Rhythm Society guidelines recommend ILR use in patients with recurrent, infrequent unexplained syncope when an arrhythmic etiology is suspected but not confirmed by conventional testing, regardless of structural heart disease status 2.

ILR đã cách mạng hóa việc đánh giá ngất không rõ nguyên nhân bằng cách cho phép theo dõi tim liên tục, lâu dài, từ đó cải thiện đáng kể hiệu suất chẩn đoán. Nghiên cứu đăng ký PICTURE cho thấy ILR đã xác định được nguyên nhân loạn nhịp ở 78% bệnh nhân ngất không rõ nguyên nhân, thường thúc đẩy sự thay đổi trong quản lý lâm sàng 1. Phù hợp với điều này, hướng dẫn năm 2017 của Trường Cao đẳng Tim mạch Hoa Kỳ/Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ/Hiệp hội Nhịp tim khuyến cáo sử dụng ILR ở những bệnh nhân ngất tái phát, không thường xuyên và không rõ nguyên nhân khi nghi ngờ có nguyên nhân loạn nhịp nhưng chưa được xác nhận bằng các xét nghiệm thông thường, bất kể tình trạng bệnh tim thực tổn như thế nào 2.

ILRs have also shown utility in evaluating recurrent, unexplained palpitations, particularly when traditional testing fails to capture arrhythmic events. The Recurrent Unexplained Palpitations (RUP) study reported that ILRs identified a causal arrhythmia in 73% of such patients, enabling tailored treatment strategies 3.

ILR cũng cho thấy tiện ích trong việc đánh giá chứng đánh trống ngực tái phát, không rõ nguyên nhân, đặc biệt là khi các xét nghiệm truyền thống không ghi nhận được các sự kiện loạn nhịp. Nghiên cứu về Chứng đánh trống ngực tái phát không rõ nguyên nhân (RUP) đã báo cáo rằng ILR đã xác định được nguyên nhân loạn nhịp ở 73% các bệnh nhân này, cho phép đưa ra các chiến lược điều trị phù hợp 3.

Despite their diagnostic benefits, ILRs have known limitations. Chief among them is oversensing, which can result in misinterpretation of cardiac signals and false arrhythmia alerts. Oversensing can occur due to myopotentials, electromagnetic interference, or improper device positioning 4.

Mặc dù có những lợi ích chẩn đoán, ILR vẫn có những hạn chế đã được biết đến. Đứng đầu trong số đó là hiện tượng nhận cảm quá mức, có thể dẫn đến diễn giải sai các tín hiệu tim và đưa ra các cảnh báo loạn nhịp giả. Nhận cảm quá mức có thể xảy ra do điện cơ, nhiễu điện từ hoặc vị trí đặt thiết bị không phù hợp 4.

Multiple case reports have documented instances of oversensing and undersensing with ILRs. One case described P-wave oversensing that masked clinically significant pauses during syncope episodes 5. Another documented false-positive asystole episodes 6, while a third reported T-wave oversensing that was resolved by repositioning the device 7. Given that ILRs are subcutaneous devices, such limitations are not unexpected. Supporting this, a multicenter cohort study found that 59.8% of all ILR-generated alerts were false positives, with even higher rates reported for AF and atrial tachycardia 8.

Nhiều báo cáo ca lâm sàng đã ghi nhận các trường hợp nhận cảm quá mức và nhận cảm dưới mức với ILR. Một trường hợp đã mô tả hiện tượng nhận cảm quá mức sóng P làm che lấp các đoạn vô tâm thu có ý nghĩa lâm sàng trong các cơn ngất 5. Một trường hợp khác ghi nhận các cơn vô tâm thu dương tính giả 6, trong khi trường hợp thứ ba báo cáo hiện tượng nhận cảm quá mức sóng T đã được giải quyết bằng cách định vị lại thiết bị 7. Do ILR là thiết bị cấy dưới da, những hạn chế như vậy không phải là điều bất ngờ. Hỗ trợ cho điều này, một nghiên cứu đoàn hệ đa trung tâm cho thấy 59.8% tất cả các cảnh báo do ILR tạo ra là dương tính giả, với tỷ lệ thậm chí còn cao hơn đối với AF và nhịp nhanh nhĩ 8.

What makes our case distinctive is the right parasternal implantation site and the occurrence of R wave oversensing of P waves and T waves, with undersensing of QRS complexes. Although nontraditional, this right parasternal location was selected to enhance visualization of atrial activity, particularly P waves.

Điều làm cho ca lâm sàng của chúng tôi trở nên khác biệt là vị trí cấy ghép ở vùng cạnh ức phải và sự xuất hiện của hiện tượng nhận cảm quá mức sóng P và sóng T dưới dạng sóng R, đi kèm với nhận cảm dưới mức các phức bộ QRS. Mặc dù không theo truyền thống, vị trí cạnh ức phải này đã được lựa chọn để tăng cường khả năng hiển thị hoạt động của nhĩ, đặc biệt là sóng P.

Regarding the optimal implantation technique, previous studies have recommended placement at the midclavicular line of the third intercostal space or the left sternal border of the fourth intercostal space, citing more reliable R-wave amplitudes and minimal impact from insertion angle 9. These locations are widely accepted and well supported in the literature 10–12. However, in our case, the choice of a right parasternal site, while beneficial for atrial signal clarity, may have contributed to inappropriate multiple sensing. This case also illustrates that an early post-implant review of remote transmissions with rapid reprogramming prevented the subsequent false-alert burden 13,14.

Về kỹ thuật cấy ghép tối ưu, các nghiên cứu trước đây đã khuyến nghị đặt tại đường trung đòn của khoang liên sườn ba hoặc bờ trái xương ức của khoang liên sườn bốn, với lý do biên độ sóng R đáng tin cậy hơn và giảm thiểu tác động từ góc đưa thiết bị vào 9. Những vị trí này được chấp nhận rộng rãi và được hỗ trợ tốt trong y văn 10–12. Tuy nhiên, trong trường hợp của chúng tôi, việc lựa chọn vị trí cạnh ức phải, mặc dù có lợi cho độ rõ nét của tín hiệu nhĩ, nhưng có thể đã góp phần gây ra tình trạng nhận cảm nhiều lần không phù hợp. Ca lâm sàng này cũng minh họa rằng việc xem xét sớm các dữ liệu truyền xa sau cấy ghép kết hợp với lập trình lại nhanh chóng đã ngăn chặn được gánh nặng cảnh báo sai sau đó 13,14.

The cause of syncope in our patient still remains elusive despite exhaustive workup. She experienced no recurrence of syncope, and 2.5 years of monitoring revealed no episodes of tachychardia or bradyarrhythmia.

Nguyên nhân gây ngất ở bệnh nhân của chúng tôi vẫn chưa thể tìm ra mặc dù đã trải qua các thăm khám toàn diện. Bà không bị tái phát ngất và 2.5 năm theo dõi không phát hiện bất kỳ cơn nhịp nhanh hay loạn nhịp chậm nào.

Conclusions

Kết luận

This case highlights how unconventional implantation sites, such as the right parasternal region, can yield distinct sensing profiles that necessitate careful device programming to prevent inappropriate arrhythmia detection. This also highlights the eloquent solution in reprogramming the ILR as opposed to repositioning it, as is done in some left parasternal implantation locations.

Ca lâm sàng này nêu bật cách các vị trí cấy ghép không thông thường, chẳng hạn như vùng cạnh ức phải, có thể tạo ra các đặc tính nhận cảm khác biệt đòi hỏi phải lập trình thiết bị cẩn thận để ngăn ngừa việc phát hiện loạn nhịp không phù hợp. Điều này cũng làm nổi bật một giải pháp tối ưu là lập trình lại thiết bị ILR thay vì phải phẫu thuật để định vị lại thiết bị, như thường phải làm ở một số vị trí cấy ghép vùng cạnh ức trái.

Reference

  1. Edvardsson N, Frykman V, van Mechelen RPICTURE Study Investigators, Use of an implantable loop recorder to increase the diagnostic yield in unexplained syncope: Results from the PICTURE registry: Europace, 2011; 13(2); 262-69
  2. Shen WK, Sheldon RS, Benditt DG, 2017 ACC/AHA/HRS Guideline for the evaluation and management of patients with syncope: A rReport of the American College of Cardiology/American Heart Association Task Force on Clinical Practice Guidelines and the Heart Rhythm Society: Circulation, 2017; 136(5); e60-e122 [Erratum in: Circulation. 2017;136(16):e271–e72]
  3. Giada F, Gulizia M, Francese M, Recurrent unexplained palpitations (RUP) study comparison of implantable loop recorder versus conventional diagnostic strategy: J Am Coll Cardiol, 2007; 49(19); 1951-56
  4. Pürerfellner H, Pokushalov E, Sarkar S, P-wave evidence as a method for improving algorithm to detect atrial fibrillation in insertable cardiac monitors: Heart Rhythm, 2014; 11(9); 1575-83
  5. Kasai Y, Morita J, Kitai T, P-Wave Oversensing by the Implantable Cardiac Monitor During Paroxysmal Atrioventricular Block: What is the mechanism?: J Cardiovasc Electrophysiol, 2025; 36(2); 512-16
  6. Grymuza M, Ciepłucha A, Katarzyńska-Szymańska A, False-positive episodes detected by an implantable loop recorder: Kardiol Pol, 2020; 78; 11711173
  7. Daloub S, Alzubi AS, Abozguia K, Repositioning of the insertable cardiac monitor through the same incision to avoid T-wave oversensing: Cureus, 2024; 16(5); e60741
  8. O’Shea CJ, Middeldorp ME, Hendriks JM, Remote monitoring of implantable loop recorders: False-positive alert episode burden: Circ Arrhythm Electrophysiol, 2021; 14(11); e009635
  9. Kawashima A, Tanimoto F, Nagao T, Investigation of optimal position for implantable loop recorders by potential mapping with Reveal DX: J Arrhythm, 2015; 31(3); 130-36
  10. Vilcant V, Kousa O, Hai O, Implantable loop recorder: StatPearls [Internet] Jul 24, 2023, Treasure Island (FL), StatPearls Publishing
  11. Harfoush A, Implantable loop recorder migration: Case-based review and implications for clinical practice: Am Heart J Plus, 2025; 51; 100505
  12. Zellerhoff C, Himmrich E, Nebeling D, How can we identify the best implantation site for an ECG event recorder?: Pacing Clin Electrophysiol, 2000; 23(10 Pt 1); 1545-49
  13. Neiman ZM, Raitt MH, Rohrbach G, Dhruva SS, Monitoring of remotely reprogrammable implantable loop recorders with algorithms to reduce false-positive alerts: J Am Heart Assoc, 2024; 13(5); e032890
  14. Forleo GB, Amellone C, Sacchi R, Factors affecting signal quality in implantable cardiac monitors with long sensing vector: J Arrhythm, 2021; 37(4); 1061-68

Có thể bạn quan tâm