U bướu thần kinh nội tiết biệt hóa tốt nguyên phát ở vú: Báo cáo ca bệnh và tổng quan tài liệu

Primary Well-Differentiated Neuroendocrine Tumor of the Breast: A Case Report and Literature Review

Sanjna Sai Gudena; Nilesh Digvijay Kashikar; Matthew Charles Wakefield. American Journal of Case Reports. doi: 10.12659/AJCR.950684. Open access.
(A) Mammogram revealing a 2.6-cm mass in the left breast upper outer quadrant. (B) CC view confirming the breast mass.
Figure 1
https://jours.isi-science.com/imageXml.php?i=amjcaserep-26-e950684-g001.jpg&idArt=950684&w=1000 Figure 1 Hình 1
(A) Mammogram revealing a 2.6-cm mass in the left breast upper outer quadrant. (B) CC view confirming the breast mass.
(A) Phim chụp X-quang tuyến vú (mammogram) cho thấy một khối u kích thước 2,6 cm ở phần tư trên ngoài của vú trái. (B) Hình ảnh tư thế CC (craniocaudal) xác nhận khối u ở vú.
Low-magnification view (40×) of the tumor with H&E stain, showing tumor cells arranged in tight organoid nests with delicate intervening fibrovascular stroma. Almost the entire tumor shows the same pattern.
Figure 2
https://jours.isi-science.com/imageXml.php?i=amjcaserep-26-e950684-g002.jpg&idArt=950684&w=1000 Figure 2 Hình 2
Low-magnification view (40×) of the tumor with H&E stain, showing tumor cells arranged in tight organoid nests with delicate intervening fibrovascular stroma. Almost the entire tumor shows the same pattern.
Hình ảnh độ phóng đại thấp (40×) của khối u được nhuộm H&E, cho thấy các tế bào u sắp xếp thành các ổ dạng cơ quan (organoid) chặt chẽ với mô đệm xơ mạch mỏng xen kẽ. Hầu như toàn bộ khối u đều thể hiện mô hình tương tự.
At a higher magnification (200×), the tumor cells show many typical features of neuroendocrine morphology. The tumor cells are polygonal with granular eosinophilic cytoplasm. The classical salt-and-pepper stippled chromatin is visible in a minority of tumor cells. Neuroendocrine tumors of the breast in general, as also seen in this case, tend to show a lower Nottingham nuclear grade of 1 or 2 out of 3.
Figure 3
https://jours.isi-science.com/imageXml.php?i=amjcaserep-26-e950684-g003.jpg&idArt=950684&w=1000 Figure 3 Hình 3
At a higher magnification (200×), the tumor cells show many typical features of neuroendocrine morphology. The tumor cells are polygonal with granular eosinophilic cytoplasm. The classical salt-and-pepper stippled chromatin is visible in a minority of tumor cells. Neuroendocrine tumors of the breast in general, as also seen in this case, tend to show a lower Nottingham nuclear grade of 1 or 2 out of 3.
Ở độ phóng đại cao hơn (200×), các tế bào u thể hiện nhiều đặc điểm hình thái điển hình của thần kinh nội tiết. Các tế bào u có hình đa giác với tế bào chất dạng hạt ưa eosin. Chất nhiễm sắc lốm đốm kiểu “muối tiêu” cổ điển có thể nhìn thấy ở một số ít tế bào u. Nhìn chung, các u thần kinh nội tiết ở vú, và cũng được ghi nhận trong trường hợp này, có xu hướng thể hiện độ nhân Nottingham thấp hơn, ở mức 1 hoặc 2 trên 3.
Immunohistochemical stain for synaptophysin, a typical marker for neuroendocrine differentiation, displays cytoplasmic labeling within the tumor cells, confirming the neuroendocrine nature of the tumor.
Figure 4
https://jours.isi-science.com/imageXml.php?i=amjcaserep-26-e950684-g004.jpg&idArt=950684&w=1000 Figure 4 Hình 4
Immunohistochemical stain for synaptophysin, a typical marker for neuroendocrine differentiation, displays cytoplasmic labeling within the tumor cells, confirming the neuroendocrine nature of the tumor.
Nhuộm hóa mô miễn dịch đối với synaptophysin, một dấu ấn điển hình cho sự biệt hóa thần kinh nội tiết, cho thấy sự gắn nhãn tế bào chất bên trong các tế bào u, xác nhận bản chất thần kinh nội tiết của khối u.
A representative micrograph from one of the lymph nodes showing normal lymph node architecture with lymphoid follicles and sinusoids, without any evidence of metastatic tumor.
Figure 5
https://jours.isi-science.com/imageXml.php?i=amjcaserep-26-e950684-g005.jpg&idArt=950684&w=1000 Figure 5 Hình 5
A representative micrograph from one of the lymph nodes showing normal lymph node architecture with lymphoid follicles and sinusoids, without any evidence of metastatic tumor.
Hình ảnh vi thể đại diện từ một trong các hạch bạch huyết cho thấy cấu trúc hạch bạch huyết bình thường với các nang bạch huyết và xoang hạch, không có bất kỳ bằng chứng nào của u di căn.
Computed tomography showing the right upper-lobe lung mass and mediastinal lymphadenopathy.
Figure 6
https://jours.isi-science.com/imageXml.php?i=amjcaserep-26-e950684-g006.jpg&idArt=950684&w=1000 Figure 6 Hình 6
Computed tomography showing the right upper-lobe lung mass and mediastinal lymphadenopathy.
Chụp cắt lớp vi tính cho thấy khối u ở thùy trên phổi phải và bệnh lý hạch bạch huyết trung thất.
Computed tomography of the thoracic spine showing a T7 vertebral compression fracture.
Figure 7
https://jours.isi-science.com/imageXml.php?i=amjcaserep-26-e950684-g007.jpg&idArt=950684&w=1000 Figure 7 Hình 7
Computed tomography of the thoracic spine showing a T7 vertebral compression fracture.
Chụp cắt lớp vi tính cột sống ngực cho thấy xẹp đốt sống T7 do gãy xương bệnh lý.
Lung involvement by metastatic breast carcinoma. (A) High-power magnification image of the H&E-stained fine-needle aspirate from the lung lesion appears to be predominantly necrotic with an admixture of inflammatory cells, macrophages, and a few probable metastatic malignant cells (blue arrows). (B) Immunohistochemical stain for a breast marker, GATA3, was performed. The stain labeled rare, scattered, malignant-appearing cells (black arrows), confirming the presence of metastatic breast carcinoma to the lung.
Figure 8
https://jours.isi-science.com/imageXml.php?i=amjcaserep-26-e950684-g008.jpg&idArt=950684&w=1000 Figure 8 Hình 8
Lung involvement by metastatic breast carcinoma. (A) High-power magnification image of the H&E-stained fine-needle aspirate from the lung lesion appears to be predominantly necrotic with an admixture of inflammatory cells, macrophages, and a few probable metastatic malignant cells (blue arrows). (B) Immunohistochemical stain for a breast marker, GATA3, was performed. The stain labeled rare, scattered, malignant-appearing cells (black arrows), confirming the presence of metastatic breast carcinoma to the lung.
Sự xâm lấn phổi do ung thư biểu mô tuyến vú di căn. (A) Hình ảnh độ phóng đại cao của bệnh phẩm chọc hút bằng kim nhỏ từ tổn thương phổi được nhuộm H&E cho thấy vùng hoại tử là chủ yếu xen lẫn các tế bào viêm, đại thực bào và một vài tế bào ác tính có khả năng là di căn (mũi tên màu xanh). (B) Nhuộm hóa mô miễn dịch đối với một dấu ấn của vú, GATA3, đã được thực hiện. Thuốc nhuộm đã gắn nhãn các tế bào hiếm gặp, rải rác, có biểu hiện ác tính (mũi tên màu đen), xác nhận sự hiện diện của ung thư biểu mô tuyến vú di căn đến phổi.
Summary of studies on breast neuroendocrine tumors.
Table 1
https://jours.isi-science.com/imageXml.php?i=t1-amjcaserep-26-e950684.jpg&idArt=950684&w=1000 Table 1 Bảng 1
Summary of studies on breast neuroendocrine tumors.
Tóm tắt các nghiên cứu về u thần kinh nội tiết ở vú.
Additional studies.
Table 2
https://jours.isi-science.com/imageXml.php?i=t2-amjcaserep-26-e950684.jpg&idArt=950684&w=1000 Table 2 Bảng 2
Additional studies.
Các nghiên cứu bổ sung.
Show
Hide
EN – VI
VI – EN

Abstract

Tóm tắt

BACKGROUND: Primary breast neuroendocrine neoplasms (NENs) are extremely rare, comprising 1-5% of diagnosed breast cancers. The goal of this paper is to describe the current literature on these cancers, along with treatment options and survival data from prior studies.

BỐI CẢNH: Bướu thần kinh nội tiết (NENs) nguyên phát ở vú là cực kỳ hiếm gặp, chiếm 1-5% các trường hợp ung thư vú được chẩn đoán. Mục tiêu của bài báo này là mô tả các tài liệu hiện tại về những loại ung thư này, cùng với các phương án điều trị và dữ liệu sống sót từ các nghiên cứu trước đây.

CASE REPORT: A 61-year-old woman presented with a palpable lump in the breast, which upon biopsy was proven to be a primary breast neuroendocrine tumor. This was treated with breast-conserving surgery with sentinel lymph node dissection, followed by adjuvant radiation. She refused anti-estrogen therapy, and 2 years later she presented with metastatic disease, chose not to receive any additional treatment, and died. Several retrospective analyses have illustrated that breast neuroendocrine tumors have a slightly worse prognosis compared to invasive ductal carcinomas (IDCs) when stratified by stage. However, most of the studies had small sample sizes, which makes interpretation of data from these studies difficult to generalize to the overall population of breast NENs.

BÁO CÁO CA BỆNH: Một phụ nữ 61 tuổi đến khám với một khối u có thể sờ thấy ở vú, kết quả sinh thiết sau đó chứng minh là u thần kinh nội tiết nguyên phát ở vú. Bệnh nhân đã được điều trị bằng phẫu thuật bảo tồn vú kết hợp nạo hạch gác cửa, sau đó là xạ trị hỗ trợ. Bà đã từ chối liệu pháp kháng estrogen, và 2 năm sau bà nhập viện với tình trạng bệnh đã di căn, lựa chọn không nhận bất kỳ điều trị bổ sung nào và đã tử vong. Nhiều phân tích hồi cứu đã chỉ ra rằng các u thần kinh nội tiết ở vú có tiên lượng xấu hơn một chút so với ung thư biểu mô tuyến ống xâm nhập (IDCs) khi phân tầng theo giai đoạn. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều có cỡ mẫu nhỏ, khiến việc diễn giải dữ liệu từ các nghiên cứu này khó có thể khái quát hóa cho toàn bộ quần thể bệnh nhân NENs ở vú.

CONCLUSIONS: Routine testing for neuroendocrine markers could identify a larger population of neuroendocrine tumors (NETs). Currently, because of the rarity of these tumors, prospective trials are not available to study them as a distinct entity to evaluate and optimize treatments. Reports indicate that these tumors have overall inferior survival compared to IDCs. Further studies are needed to evaluate this rare entity to improve patient outcomes.

KẾT LUẬN: Xét nghiệm thường quy các dấu ấn thần kinh nội tiết có thể giúp xác định một quần thể lớn hơn các u thần kinh nội tiết (NETs). Hiện tại, do tính chất hiếm gặp của những khối u này, các thử nghiệm tiến cứu vẫn chưa có sẵn để nghiên cứu chúng như một bệnh lý riêng biệt nhằm đánh giá và tối ưu hóa các phương pháp điều trị. Các báo cáo chỉ ra rằng những khối u này nhìn chung có thời gian sống sót kém hơn so với IDCs. Cần có thêm các nghiên cứu để đánh giá bệnh lý hiếm gặp này nhằm cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân.

Keywords: neuroendocrine tumors, breast neoplasms, case reports

Từ khóa: u thần kinh nội tiết, bướu tân sinh ở vú, báo cáo ca bệnh

Introduction

Đặt vấn đề

Pathological definition of breast neuroendocrine neoplasms (NEN):

ĐỊNH NGHĨA GIẢI PHẪU BỆNH CỦA BƯỚU THẦN KINH NỘI TIẾT (NEN) Ở VÚ

Previously, the WHO classification of breast neuroendocrine carcinomas required more than 50% of cells to have neuroendocrine features, but this has been changed over the years. In 2019, the WHO classified NENs of the breast, like other organs, into well-differentiated neuroendocrine tumors (NETs), highly aggressive neuroendocrine carcinomas (NECs), and invasive breast cancers of no special type (IBCs-NST) with neuroendocrine differentiation 4.

Trước đây, phân loại của WHO đối với ung thư biểu mô thần kinh nội tiết ở vú yêu cầu hơn 50% số tế bào phải mang các đặc điểm thần kinh nội tiết, nhưng điều này đã thay đổi qua các năm. Vào năm 2019, WHO đã phân loại NENs ở vú, tương tự như ở các cơ quan khác, thành u thần kinh nội tiết biệt hóa tốt (NETs), ung thư biểu mô thần kinh nội tiết có độ ác tính cao (NECs), và ung thư vú xâm nhập loại không biệt hóa đặc biệt (IBCs-NST) có biệt hóa thần kinh nội tiết 4.

There are several markers for identification of neuroendocrine lineage, including synaptophysin, chromogranin A, somatostatin receptors, and INSM1. Other immunohistochemical markers can identify the primary source, which include estrogen receptors, progesterone receptors, HER-2 neu receptors, and cytokeratins 5.

Có một số dấu ấn giúp xác định dòng tế bào thần kinh nội tiết, bao gồm synaptophysin, chromogranin A, các thụ thể somatostatin, và INSM1. Các dấu ấn hóa mô miễn dịch khác có thể xác định nguồn gốc nguyên phát, bao gồm các thụ thể estrogen, các thụ thể progesterone, thụ thể HER-2 neu, và các cytokeratin 5.

Case Report

Báo cáo ca bệnh

Treatment summary

Tóm tắt điều trị

The patient underwent breast-conserving surgery and sentinel lymph node biopsy. Final pathology revealed a breast primary neuroendocrine tumor measuring 2.8 cm with clear margins, and 2 lymph nodes from the left axilla were negative for malignancy. After discussing the risks and benefits of chemotherapy, the decision was made to forego chemotherapy. Subsequently, she underwent adjuvant radiation therapy, receiving 42 Gray in 16 fractions and 8 Gray boost over 4 fractions. She was prescribed adjuvant anti-estrogen therapy with anastrozole with the planned treatment duration of 5–7 years.

Bệnh nhân đã được phẫu thuật bảo tồn vú và sinh thiết hạch gác cửa. Kết quả giải phẫu bệnh cuối cùng ghi nhận một u thần kinh nội tiết nguyên phát ở vú kích thước 2,8 cm với các diện cắt âm tính, và 2 hạch bạch huyết từ nách trái âm tính với tế bào ác tính. Sau khi thảo luận về những rủi ro và lợi ích của hóa trị, quyết định được đưa ra là bỏ qua hóa trị. Sau đó, bà được điều trị bằng liệu pháp xạ trị hỗ trợ, nhận liều 42 Gray chia làm 16 phân liều và xạ trị áp sát tăng cường (boost) 8 Gray chia làm 4 phân liều. Bà được chỉ định liệu pháp kháng estrogen hỗ trợ bằng anastrozole với thời gian điều trị dự kiến từ 5–7 năm.

After a few months of anti-estrogen therapy, she discontinued it because of adverse effects, primarily hot flashes and joint stiffness, and was lost to follow-up until she presented to the hospital 2 years later with low back pain and severe hypercalcemia (serum calcium level >15 mg/dL). A workup revealed a 5.8-cm right upper-lobe lung mass, pathologic mediastinal adenopathy, and multifocal osseous metastatic disease throughout the ribs, spine, and scapula (Figure 6). Her back pain was the result of a pathologic compression fracture of the T7 vertebral body with extraosseous extension (Figure 7). Bronchoscopy biopsy and immunohistochemical (IHC) stains revealed malignant cells that were GATA3-positive and TTF-1/p40-negative (Figure 8A, 8B). This profile was most consistent with a breast carcinoma metastasis, similar to her earlier diagnosis of breast NET. She declined all further therapy, entered hospice care, and died 1 month later.

Sau vài tháng dùng liệu pháp kháng estrogen, bà đã ngưng thuốc do các tác dụng phụ, chủ yếu là bốc hỏa và cứng khớp, và mất dấu theo dõi cho đến khi nhập viện 2 năm sau đó vì đau lưng dưới và tăng canxi máu nghiêm trọng (nồng độ canxi huyết thanh >15 mg/dL). Kết quả tầm soát phát hiện một khối u phổi thùy trên bên phải kích thước 5,8 cm, bệnh lý hạch trung thất và bệnh di căn xương đa ổ khắp các xương sườn, cột sống và xương bả vai (Hình 6). Tình trạng đau lưng của bà là hậu quả của hiện tượng gãy lún đốt sống T7 do bệnh lý với sự xâm lấn ra ngoài xương (Hình 7). Sinh thiết qua nội phế quản và nhuộm hóa mô miễn dịch (IHC) cho thấy các tế bào ác tính dương tính với GATA3 và âm tính với TTF-1/p40 (Hình 8A, 8B). Đặc điểm này phù hợp nhất với tình trạng di căn của ung thư biểu mô tuyến vú, tương tự như chẩn đoán NET vú trước đây của bà. Bà đã từ chối tất cả các liệu pháp điều trị tiếp theo, chuyển sang chăm sóc giảm nhẹ cuối đời và qua đời 1 tháng sau đó.

Discussion

Bàn luận

Several retrospective analyses of breast NEN have been conducted over the past 2 decades. Most studies are hampered by small sample sizes and comparison with historical controls, making it difficult to generalize the data to the wider population of breast NENs (Table 1). The largest such retrospective analysis of the National Cancer Database was published in Surgical Oncology by Martinez et al, in which a sample of 1389 patients were evaluated and compared to IDC of the breast. Most of those patients were over the age of 50 years. The characteristics analyzed showed that, although there was a higher proportion of estrogen receptor-negative and progesterone receptor-negative patients in the breast NET cohort than invasive ductal cancer, most NETs were ER-positive, as in our patient. Systemic chemotherapy was also given more often in the NET group. The 5-year overall survival was worse than for invasive ductal carcinoma at every stage, with a hazard ratio of 1.5–2 5.

Nhiều phân tích hồi cứu về NEN vú đã được tiến hành trong 2 thập kỷ qua. Hầu hết các nghiên cứu đều bị hạn chế bởi cỡ mẫu nhỏ và việc so sánh với các nhóm chứng lịch sử, khiến việc khái quát hóa dữ liệu cho quần thể bệnh nhân NEN vú rộng lớn hơn trở nên khó khăn (Bảng 1). Phân tích hồi cứu lớn nhất thuộc loại này từ Cơ sở dữ liệu Ung thư Quốc gia đã được Martinez và cộng sự công bố trên tạp chí Surgical Oncology, trong đó một cỡ mẫu gồm 1389 bệnh nhân đã được đánh giá và so sánh với IDC vú. Hầu hết các bệnh nhân đó đều trên 50 tuổi. Các đặc điểm được phân tích cho thấy, mặc dù có tỷ lệ bệnh nhân âm tính với thụ thể estrogen và âm tính với thụ thể progesterone ở nhóm NET vú cao hơn so với ung thư tuyến ống xâm nhập, nhưng hầu hết các trường hợp NET đều dương tính với ER, giống như ở bệnh nhân của chúng tôi. Hóa trị toàn thân cũng được chỉ định thường xuyên hơn ở nhóm NET. Tỷ lệ sống sót toàn bộ sau 5 năm tồi tệ hơn so với ung thư biểu mô tuyến ống xâm nhập ở mọi giai đoạn, với tỷ số nguy cơ (hazard ratio) từ 1,5–2 5.

Earlier studies also appear to show that breast NETs have worse outcomes than IDCs. This was studied by Wang et al in a retrospective analysis of the Surveillance, Epidemiology, and End Results (SEER) database from 2003 to 2009 with a sample size of 142. Similarly, estrogen receptor- and progesterone-negative tumors were more often seen in the neuroendocrine cohort, and 5-year overall survival was 53.6% for NET versus 79.8% for invasive mammary carcinomas (IMC). Once again, at each stage, the overall survival was inferior in the neuroendocrine cohort 6.

Các nghiên cứu trước đây cũng cho thấy NET vú có kết cục kém hơn so với IDC. Điều này đã được Wang và cộng sự nghiên cứu trong một phân tích hồi cứu từ cơ sở dữ liệu Giám sát, Dịch tễ học và Kết quả cuối cùng (SEER) từ năm 2003 đến 2009 với cỡ mẫu là 142. Tương tự, các khối u âm tính với thụ thể estrogen và progesterone thường được ghi nhận nhiều hơn ở nhóm thần kinh nội tiết, và tỷ lệ sống sót toàn bộ sau 5 năm là 53,6% đối với NET so với 79,8% đối với ung thư biểu mô tuyến vú xâm nhập (IMC). Một lần nữa, ở mỗi giai đoạn, tỷ lệ sống sót toàn bộ ở nhóm thần kinh nội tiết đều thấp hơn 6.

Other studies are summarized in Table 2, but because of small sample sizes, definitive conclusions are difficult. However, they are worthy of discussion, given the relative paucity of data on these cancers. Sapino et al analyzed prognostic markers for NECs and found that low-grade ER-/PR-positive expression and mucinous differentiation are associated with a favorable prognosis 7.

Các nghiên cứu khác được tóm tắt trong Bảng 2, nhưng do cỡ mẫu nhỏ nên khó đưa ra kết luận chắc chắn. Tuy nhiên, chúng rất đáng để bàn luận, do dữ liệu về những loại ung thư này còn tương đối khan hiếm. Sapino và cộng sự đã phân tích các dấu ấn tiên lượng cho NEC và nhận thấy rằng biểu hiện dương tính với ER/PR độ mô học thấp và sự biệt hóa nhầy có liên quan đến tiên lượng thuận lợi 7.

Rovera et al evaluated NETs (defined as >50% positivity for NE markers) and compared them to ductal carcinomas with <50% NE markers. They did not find NETs have a worse prognosis compared to the IDCs with minor neuroendocrine marker positivity. They also compared NEC to IDC and ILC, finding that patients with NEC did not have cancer recurrences, showing that NECs were less aggressive. This has not been shown in any other studies and hence is an outlier. The small sample size makes it difficult to draw definitive conclusions 8.

Rovera và cộng sự đã đánh giá các trường hợp NET (được định nghĩa là có độ dương tính >50% với các dấu ấn NE) và so sánh chúng với các ung thư biểu mô tuyến ống có dưới 50% dấu ấn NE. Họ không nhận thấy NET có tiên lượng xấu hơn khi so với các trường hợp IDC có độ dương tính với dấu ấn thần kinh nội tiết ở mức tối thiểu. Họ cũng so sánh NEC với IDC và ILC, nhận thấy rằng những bệnh nhân mắc NEC không bị tái phát ung thư, cho thấy NEC ít ác tính hơn. Điều này chưa từng được ghi nhận trong bất kỳ nghiên cứu nào khác và do đó là một kết quả ngoại lai. Cỡ mẫu nhỏ khiến việc đưa ra kết luận chắc chắn trở nên khó khăn 8.

The overall incidence and prevalence of all neuroendocrine tumors have been steadily growing, owing to better diagnostic testing and early stages of diagnosis due to better screening techniques. Simultaneously, survival of all neuroendocrine tumors has also been improving, especially because of improved systemic treatments and early detection. However, there is very little data on breast neuroendocrine cancers in this study of the SEER database from 2009 to 2012 6.

Tỷ lệ mắc mới và tỷ lệ hiện mắc chung của tất cả các u thần kinh nội tiết đang tăng lên đều đặn, nhờ vào các xét nghiệm chẩn đoán tốt hơn và việc phát hiện ở giai đoạn sớm nhờ các kỹ thuật tầm soát cải tiến. Đồng thời, tỷ lệ sống sót của tất cả các u thần kinh nội tiết cũng được cải thiện, đặc biệt là nhờ các phương pháp điều trị toàn thân tiến bộ và phát hiện sớm. Tuy nhiên, có rất ít dữ liệu về ung thư thần kinh nội tiết ở vú trong nghiên cứu này từ cơ sở dữ liệu SEER từ năm 2009 đến 2012 6.

Oncotype Dx and Mammaprint molecular testing have become essential tools for risk stratification and determination of chemotherapy benefit for ER-positive and HER-2 negative breast cancers. Neither study identified NEC in their subset analysis to enable use of these tools for risk stratification. The role of chemotherapy in these cancers is unclear due to a lack of relevant data from these studies 9,10.

Các xét nghiệm phân tử Oncotype Dx và Mammaprint đã trở thành công cụ thiết yếu để phân tầng nguy cơ và xác định lợi ích của hóa trị đối với các trường hợp ung thư vú dương tính với ER và âm tính với HER-2. Cả hai nghiên cứu đều không xác định bệnh lý NEC trong phân tích dưới nhóm của họ để cho phép sử dụng các công cụ này vào việc phân tầng nguy cơ. Vai trò của hóa trị trong những loại ung thư này vẫn chưa rõ ràng do thiếu dữ liệu liên quan từ các nghiên cứu này 9,10.

A significant aspect of our case was the early discontinuation of anti-estrogen therapy, which could have affected the relapse and mortality of our patient. A meta-analysis published in 2023 by Eliassen et al analyzed non-adherence or early discontinuation (non-persistent) of anti-estrogen therapy in estrogen receptor-positive breast cancer patients. Out of 10 studies, 7 showed significantly poorer event-free survival for the non-adherent or non-persistent patient groups, with hazard ratios (HRs) ranging from 1.39 (95% CI, 1.07 to 1.53) to 2.44 (95% CI, 1.89 to 3.14). Seven out of 10 studies also demonstrated significantly reduced overall survival in the groups with non-adherence and non-persistence, with HRs ranging from 1.26 (95% CI, 1.11 to 1.43) to 2.18 (95% CI, 1.99 to 2.39) 11.

Một khía cạnh quan trọng trong ca bệnh của chúng tôi là việc ngưng liệu pháp kháng estrogen sớm, điều này có thể đã ảnh hưởng đến sự tái phát và tử vong của bệnh nhân. Một phân tích gộp được công bố vào năm 2023 bởi Eliassen và cộng sự đã phân tích việc không tuân thủ hoặc ngưng sớm (không kiên trì) liệu pháp kháng estrogen ở những bệnh nhân ung thư vú dương tính với thụ thể estrogen. Trong số 10 nghiên cứu, có 7 nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sống sót không ghi nhận sự kiện (event-free survival) kém hơn đáng kể ở các nhóm bệnh nhân không tuân thủ hoặc không kiên trì điều trị, với tỷ số nguy cơ (HR) dao động từ 1,39 (95% CI, 1,07 đến 1,53) đến 2,44 (95% CI, 1,89 đến 3,14). Bảy trong số 10 nghiên cứu cũng chứng minh tỷ lệ sống sót toàn bộ giảm đáng kể ở các nhóm không tuân thủ và không kiên trì điều trị, với HR dao động từ 1,26 (95% CI, 1,11 đến 1,43) đến 2,18 (95% CI, 1,99 đến 2,39) 11.

CDK 4/6 inhibitors like abemaciclib have been approved for the adjuvant treatment of hormone receptor-positive, HER2-negative, node-positive, early breast cancer at a high risk of recurrence based on the MONARCH-E clinical trial 12,13. Ribociclib has also received approval for use in Stage 2 and 3 ER-positive breast cancers with high-risk features 13. However, neither study had any data on neuroendocrine differentiation. A case report published by Zouki et al in a patient with metastatic breast NEC demonstrated a positive response to endocrine therapy with palbociclib and triptorelin 12,14. Therefore, the clinical benefit of these novel agents in the treatment of NENs must be further investigated.

Các chất ức chế CDK 4/6 như abemaciclib đã được phê duyệt cho điều trị hỗ trợ ung thư vú giai đoạn sớm, có thụ thể nội tiết dương tính, HER2 âm tính, hạch dương tính và có nguy cơ tái phát cao dựa trên thử nghiệm lâm sàng MONARCH-E 12,13. Ribociclib cũng đã được phê duyệt để sử dụng trong ung thư vú dương tính với ER Giai đoạn 2 và 3 có các đặc điểm nguy cơ cao 13. Tuy nhiên, cả hai nghiên cứu đều không có bất kỳ dữ liệu nào về sự biệt hóa thần kinh nội tiết. Một báo cáo ca bệnh được công bố bởi Zouki và cộng sự ở một bệnh nhân mắc NEC vú di căn đã chứng minh phản ứng tích cực với liệu pháp nội tiết kết hợp palbociclib và triptorelin 12,14. Do đó, lợi ích lâm sàng của các hoạt chất mới này trong điều trị NEN cần phải được nghiên cứu thêm.

Conclusions

Kết luận

Our case illustrates a typical presentation of a neuroendocrine tumor of the breast, most of which are estrogen- and progesterone receptor-positive and HER2-negative. The treatment approach is similar to that of invasive ductal carcinoma, with a combination of therapeutic options that include surgery, chemotherapy, radiation, and anti-estrogen therapies. Because of a lack of prospective randomized control trials, whether this approach is adequate or excessive cannot be determined.

Ca bệnh của chúng tôi minh họa cho một bệnh cảnh điển hình của u thần kinh nội tiết ở vú, với hầu hết các trường hợp đều dương tính với thụ thể estrogen và progesterone, và âm tính với HER2. Tiếp cận điều trị tương tự như đối với ung thư biểu mô tuyến ống xâm nhập, với sự phối hợp của các phương án điều trị bao gồm phẫu thuật, hóa trị, xạ trị và các liệu pháp kháng estrogen. Do thiếu các thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên tiến cứu, việc phương pháp tiếp cận này là đầy đủ hay quá mức vẫn chưa thể được xác định.

The role of novel CDK 4/6 inhibitors in the adjuvant therapy of estrogen receptor-positive breast NEN has not been established. There have not been any randomized clinical trials to compare outcomes with and without chemotherapy. Molecular analysis using Oncotype DX or Mammaprint is also lacking to determine the risk of recurrence and to understand the benefit of systemic chemotherapy. Universal testing for neuroendocrine markers could identify a larger subset of breast neuroendocrine tumors that could be better studied using prospective randomized controlled clinical trials.

Vai trò của các chất ức chế CDK 4/6 mới trong điều trị hỗ trợ NEN vú dương tính với thụ thể estrogen vẫn chưa được thiết lập. Hiện chưa có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên nào để so sánh kết cục giữa việc có và không có hóa trị. Phân tích phân tử bằng Oncotype DX hoặc Mammaprint cũng còn thiếu để xác định nguy cơ tái phát và hiểu rõ lợi ích của hóa trị toàn thân. Việc xét nghiệm rộng rãi các dấu ấn thần kinh nội tiết có thể giúp xác định một nhóm nhỏ lớn hơn các u thần kinh nội tiết ở vú, từ đó có thể nghiên cứu tốt hơn thông qua các thử nghiệm lâm sàng tiến cứu ngẫu nhiên có đối chứng.

Reference

  1. Dasari A, Shen C, Halperin D, Trends in the incidence, prevalence, and survival outcomes in patients with neuroendocrine tumors in the United States: JAMA Oncol, 2017; 3(10); 1335-42
  2. Wei B, Ding T, Xing Y, Invasive neuroendocrine carcinoma of the breast: A distinctive subtype of aggressive mammary carcinoma: Cancer, 2010; 116(19); 4463-73
  3. Bogina G, Munari E, Brunelli M, Neuroendocrine differentiation in breast carcinoma: clinicopathological features and outcome: Histopathology, 2016; 68(3); 422-32
  4. Rindi G, Mete O, Uccella S, Overview of the 2022 WHO Classification of neuroendocrine neoplasms: Endocr Pathol, 2022; 33(1); 115-54
  5. Martinez EO, Jorns JM, Kong AL, Primary breast neuroendocrine tumors: An analysis of the National Cancer Database: Ann Surg Oncol, 2022; 29(10); 6339-46
  6. Wang J, Wei B, Albarracin CT, Hu J, Invasive neuroendocrine carcinoma of the breast: A population-based study from the surveillance, epidemiology and end results (SEER) database: BMC Cancer, 2014; 14; 147
  7. Sapino A, Papotti M, Righi L, Clinical significance of neuroendocrine carcinoma of the breast: Ann Oncol, 2001; 12(Suppl 2); S115-17
  8. Rovera F, Masciocchi P, Coglitore A, Neuroendocrine carcinomas of the breast: Int J Surg, 2008; 6(Suppl 1); S113-15
  9. Cardoso F, van’t Veer LJ, Bogaerts J, 70-gene signature as an aid to treatment decisions in early-stage breast cancer: N Engl J Med, 2016; 375(8); 717-29
  10. Sparano JA, Gray RJ, Makower DF, Adjuvant chemotherapy guided by a 21-gene expression assay in breast cancer: N Engl J Med, 2018; 379(2); 111-21
  11. Eliassen FM, Blafjelldal V, Helland T, Importance of endocrine treatment adherence and persistence in breast cancer survivorship: A systematic review: BMC Cancer, 2023; 23(1); 625
  12. Johnston SRD, Andre V, Abemaciclib plus endocrine therapy for hormone receptor-positive, HER2-negative, node-positive, high-risk, early breast cancer – Authors’ reply: Lancet Oncol, 2023; 24(3); e104
  13. Slamon D, Yardley DA, Hortobagyi G, Ribociclib plus endocrine therapy in early breast cancer. Reply: N Engl J Med, 2024; 390(23); 2221-22
  14. Zouki DN, Kardara VE, Ioannou S, CDK4/6 and aromatase inhibitors as first-line treatment in metastatic high-grade neuroendocrine carcinoma of the breast: A case report: Clin Case Rep, 2024; 12(7); e9180
  15. Lavigne M, Menet E, Tille JC, Comprehensive clinical and molecular analyses of neuroendocrine carcinomas of the breast: Mod Pathol, 2018; 31(1); 68-82
  16. Zekioglu O, Erhan Y, Ciris M, Bayramoglu H, Neuroendocrine differentiated carcinomas of the breast: A distinct entity: Breast, 2003; 12(4); 251-57
  17. Makretsov N, Gilks CB, Coldman AJ, Tissue microarray analysis of neuroendocrine differentiation and its prognostic significance in breast cancer: Hum Pathol, 2003; 34(10); 1001-8
  18. Lopez-Bonet E, Alonso-Ruano M, Barraza G, Solid neuroendocrine breast carcinomas: incidence, clinico-pathological features and immunohistochemical profiling: Oncol Rep, 2008; 20(6); 1369-74

Có thể bạn quan tâm