Điều trị di căn não bằng xạ trị định vị so với xạ trị toàn não bảo tồn vùng hải mã: Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên

Treatment for Brain Metastases With Stereotactic Radiation vs Hippocampal-Avoidance Whole Brain Radiation: A Randomized Clinical Trial

JAMA. 2026 Apr 7;335(13):1127-1136. doi: 10.1001/jama.2026.0076.
Ayal A Aizer; Kee-Young Shin; Paul J Catalano; Ivy Ricca; Marciana Johnson; Grant Benham; Kristin Roper; Beverly Spicer; Eileen Mann; Jennifer Nosker; Michael W Parsons; Mallika L Mendu; Jaroslaw Hepe… Ayal A Aizer; Kee-Young Shin; Paul J Catalano; Ivy Ricca; Marciana Johnson; Grant Benham; Kristin Roper; Beverly Spicer; Eileen Mann; Jennifer Nosker; Michael W Parsons; Mallika L Mendu; Jaroslaw Hepel; Fallon Chipidza; Monica Krishnan; Diana D Shi; Nayan Lamba; Itai Pashtan; Luke Peng; Brian Alexander; Paul D Brown; Patrick Y Wen; Daphne A Haas-Kogan; Rifaquat Rahman; Shyam Tanguturi; Ayal A Aizer; Kee-Young Shin; Paul J Catalano; Ivy Ricca; Marciana Johnson; Grant Benham; Kristin Roper; Beverly Spicer; Eileen Mann; Jennifer Nosker; Michael W Parsons; Mallika L Mendu; Jaroslaw Hepel; Fallon Chipidza; Monica Krishnan; Diana D Shi; Nayan Lamba; Itai Pashtan; Luke Peng; Brian Alexander; Paul D Brown; Patrick Y Wen; Daphne A Haas-Kogan; Rifaquat Rahman; Shyam Tanguturi
Show
Hide
EN – VI
VI – EN

Đừng để vàng rơi!

Summary: This phase 3 randomized clinical trial compared the efficacy of stereotactic radiation against hippocampal-avoidance whole brain radiation in 196 patients with 5 to 20 brain metastases. The primary outcome focused on patient-reported symptom severity and interference with daily functioning over a 6-month period using the MD Anderson Symptom Inventory-Brain Tumor instrument. Patients undergoing stereotactic radiation demonstrated a significant, clinically meaningful improvement in their composite symptom scores compared to those receiving whole brain radiation. Additionally, the stereotactic radiation group experienced a lower frequency of mild-to-moderate fatigue, while high-grade adverse events remained similar between both intervention cohorts.

Tóm tắt: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên pha 3 này đã so sánh hiệu quả của xạ trị định vị với xạ trị toàn não bảo tồn vùng hải mã ở 196 bệnh nhân có từ 5 đến 20 ổ di căn não. Kết cục chính tập trung vào mức độ nghiêm trọng của triệu chứng và mức độ ảnh hưởng đến hoạt động chức năng hàng ngày do bệnh nhân tự báo cáo trong khoảng thời gian 6 tháng bằng công cụ Đánh giá Triệu chứng MD Anderson – Khối u Não. Bệnh nhân được xạ trị định vị cho thấy sự cải thiện rõ rệt và có ý nghĩa lâm sàng về điểm số triệu chứng gộp so với những người được xạ trị toàn não. Ngoài ra, nhóm xạ trị định vị có tần suất mệt mỏi từ nhẹ đến trung bình thấp hơn, trong khi tỷ lệ biến cố bất lợi mức độ nặng là tương đương giữa cả hai nhóm can thiệp.

Clinical bottom line: For patients presenting with 5 to 20 brain metastases, stereotactic radiation should be preferred over hippocampal-avoidance whole brain radiation. This targeted approach achieves superior preservation of quality of life by significantly reducing symptom severity and daily functional interference.

Mấu chốt lâm sàng: Đối với những bệnh nhân có từ 5 đến 20 ổ di căn não, xạ trị định vị nên được ưu tiên lựa chọn hơn so với xạ trị toàn não bảo tồn vùng hải mã. Phương pháp tiếp cận trúng đích này giúp bảo tồn chất lượng cuộc sống tốt hơn nhờ làm giảm đáng kể mức độ nghiêm trọng của triệu chứng và mức độ ảnh hưởng đến chức năng hàng ngày.

Importance

Tầm quan trọng

Brain metastases are common in patients with cancer, and radiation is often used for management. Among patients with more than 4 brain metastases, the effects of stereotactic radiation targeting only individual tumors, compared with whole brain radiation with hippocampal avoidance, which radiates both tumors and normal brain, remain unknown.

Di căn não là tình trạng phổ biến ở bệnh nhân ung thư, và xạ trị thường được sử dụng để xử trí. Ở những bệnh nhân có hơn 4 ổ di căn não, hiệu quả của xạ trị định vị chỉ nhắm vào các khối u riêng lẻ, so với xạ trị toàn não bảo tồn vùng hải mã, vốn xạ trị vào cả khối u và mô não lành, hiện vẫn chưa được biết rõ.

Objective

Mục tiêu

To determine whether stereotactic radiation improves symptom severity and interference with daily functioning, compared with whole brain radiation with hippocampal avoidance.

Nhằm xác định liệu xạ trị định vị có cải thiện mức độ nghiêm trọng của triệu chứng và mức độ ảnh hưởng đến hoạt động chức năng hàng ngày hay không, so với xạ trị toàn não bảo tồn vùng hải mã.

Design, setting, and participants

Thiết kế, bối cảnh và đối tượng tham gia

Phase 3, open-label, randomized clinical trial conducted at 4 United States-based centers. Eligible patients had 5 to 20 brain metastases and no prior brain-directed radiation. Enrollment occurred between April 11, 2017, and May 17, 2024 (final follow-up, March 18, 2025).

Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, nhãn mở, pha 3 được tiến hành tại 4 trung tâm ở Hoa Kỳ. Các bệnh nhân đủ điều kiện có từ 5 đến 20 ổ di căn não và chưa từng xạ trị hướng não trước đó. Thời gian tuyển chọn diễn ra từ ngày 11 tháng 4 năm 2017 đến ngày 17 tháng 5 năm 2024 (lần theo dõi cuối cùng là ngày 18 tháng 3 năm 2025).

Intervention

Can thiệp

Stereotactic radiation, compared with whole brain radiation with hippocampal avoidance.

Xạ trị định vị, so với xạ trị toàn não bảo tồn vùng hải mã.

Main outcomes and measures

Kết cục chính và các chỉ số đo lường

Mean weighted patient-reported symptom severity and interference score change over 6 months postbaseline relative to baseline using the MD Anderson Symptom Inventory-Brain Tumor instrument (scale, 0-10; score change range, -10 to 10; -10 = best). A clinically meaningful Δ was defined as 0.98.

Sự thay đổi điểm số trung bình có trọng số về mức độ nghiêm trọng của triệu chứng và mức độ ảnh hưởng do bệnh nhân tự báo cáo trong vòng 6 tháng sau thời điểm nền so với thời điểm nền, sử dụng công cụ Đánh giá Triệu chứng MD Anderson – Khối u Não (thang điểm 0-10; khoảng thay đổi điểm số từ -10 đến 10; -10 = tốt nhất). Mức độ thay đổi có ý nghĩa lâm sàng (Δ) được xác định là 0,98.

Results

Kết quả

Of 196 randomized patients (mean age, 61 years; 129 [66%] female; 176 [90%] White; median number of brain metastases, 14 [IQR, 11-18]; 49 [25%] with prior neurosurgical resection), 83 (42%) completed the 6-month assessment. For the primary outcome, between baseline and postbaseline assessments through the 6-month follow-up, stereotactic radiation changed the weighted composite MD Anderson Symptom Inventory-Brain Tumor score from 2.69 to 2.37 (mean change, -0.32) and hippocampal-avoidance whole brain radiation changed the score from 2.29 to 3.03 (mean change, 0.74) (mean difference, -1.06 [95% CI, -1.54 to -0.58]; P <.001). Related grade 3-5 adverse events occurred in 12 patients (12%) in the stereotactic radiation group and 13 patients (13%) in the hippocampal-avoidance whole brain radiation group; grade 1-3 fatigue was most frequent (27 [28%] vs 43 [44%], respectively).

Trong số 196 bệnh nhân được phân bổ ngẫu nhiên (tuổi trung bình là 61; 129 người [66%] là nữ; 176 người [90%] là người da trắng; số lượng ổ di căn não trung vị là 14 [IQR, 11-18]; 49 người [25%] từng phẫu thuật cắt bỏ thần kinh trước đó), có 83 người (42%) đã hoàn thành đánh giá tại thời điểm 6 tháng. Đối với kết cục chính, giữa các đánh giá ở thời điểm nền và sau thời điểm nền trong suốt 6 tháng theo dõi, xạ trị định vị làm thay đổi điểm số gộp có trọng số của công cụ Đánh giá Triệu chứng MD Anderson – Khối u Não từ 2,69 xuống 2,37 (mức thay đổi trung bình là -0,32) và xạ trị toàn não bảo tồn vùng hải mã làm thay đổi điểm số từ 2,29 lên 3,03 (mức thay đổi trung bình là 0,74) (khác biệt trung bình là -1,06 [KTC 95%, -1,54 đến -0,58]; P < 0,001). Các biến cố bất lợi độ 3-5 có liên quan xảy ra ở 12 bệnh nhân (12%) trong nhóm xạ trị định vị và 13 bệnh nhân (13%) trong nhóm xạ trị toàn não bảo tồn vùng hải mã; tình trạng mệt mỏi độ 1-3 là phổ biến nhất (lần lượt là 27 người [28%] so với 43 người [44%]).

Conclusions and relevance

Kết luận và ý nghĩa chuyên môn

In patients with 5 to 20 brain metastases, these findings support stereotactic radiation over hippocampal-avoidance whole brain radiation to improve symptoms and interference with daily functioning, key components of quality of life.

Ở những bệnh nhân có từ 5 đến 20 ổ di căn não, các phát hiện này ủng hộ việc sử dụng xạ trị định vị thay vì xạ trị toàn não bảo tồn vùng hải mã để cải thiện các triệu chứng và mức độ ảnh hưởng đến hoạt động chức năng hàng ngày, vốn là những thành phần cốt lõi của chất lượng cuộc sống.

Trial registration

Đăng ký thử nghiệm

ClinicalTrials.gov Identifier:NCT03075072.

Mã định danh ClinicalTrials.gov: NCT03075072.

Có thể bạn quan tâm