Bằng chứng mới
Tính sinh miễn dịch và tính an toàn của vYF, một vắc-xin sốt vàng – Một thử nghiệm pha 2
Immunogenicity and Safety of vYF, a Yellow Fever Vaccine – A Phase 2 Trial
Quick Read
This phase 2, randomized, active-controlled trial evaluated the immunogenicity and safety of vYF, a next-generation live-attenuated yellow fever vaccine manufactured in Vero cells, compared to the established YF-VAX vaccine. The 1-year interim analysis demonstrated that vYF achieved successful noninferiority regarding day 29 seroconversion rates (99.7% vs 99.4%) and generated comparable neutralizing antibody geometric mean titers through 12 months. Furthermore, vYF exhibited a comparable safety and tolerability profile to YF-VAX, with no major safety concerns identified. Clinically, because conventional yellow fever vaccine production is frequently bottlenecked by egg-based manufacturing dependencies, these findings support vYF as a safe, highly immunogenic, and scalable alternative capable of stabilizing global vaccine supply and enhancing outbreak responsiveness.
Thử nghiệm ngẫu nhiên, kiểm chứng tích cực pha 2 này đã đánh giá tính sinh miễn dịch và tính an toàn của vYF, một vắc-xin sốt vàng sống giảm độc lực thế hệ mới được sản xuất trên tế bào Vero, so với vắc-xin chuẩn YF-VAX. Phân tích trung hạn 1 năm chứng minh vYF đạt tính không thua kém thành công về tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh vào ngày 29 (99,7% so với 99,4%) và tạo ra hiệu giá trung bình nhân kháng thể trung hòa tương đương kéo dài đến 12 tháng. Hơn nữa, vYF thể hiện đặc tính an toàn và khả năng dung nạp tương tự như YF-VAX, không ghi nhận mối quan ngại nghiêm trọng nào về an toàn. Về mặt lâm sàng, do việc sản xuất vắc-xin sốt vàng truyền thống thường gặp nút thắt cổ chai bởi sự phụ thuộc vào phôi trứng, các phát hiện này ủng hộ vYF như một giải pháp thay thế an toàn, có tính sinh miễn dịch cao và khả năng mở rộng quy mô lớn, giúp ổn định nguồn cung ứng vắc-xin toàn cầu và nâng cao năng lực ứng phó dịch bệnh.
Background
Tổng quan
A next-generation, live-attenuated yellow fever vaccine, vYF, was developed in Vero cells to improve vaccine supply and availability. The safety of and immune response to vYF as compared with those of the licensed yellow fever vaccine, YF-VAX, are unclear.
Một vắc-xin sốt vàng bất hoạt giảm độc lực thế hệ mới, vYF, đã được phát triển trên tế bào Vero nhằm cải thiện nguồn cung ứng và tính sẵn có của vắc-xin. Tính an toàn và đáp ứng miễn dịch của vYF so với vắc-xin sốt vàng đã được cấp phép, YF-VAX, hiện vẫn chưa rõ ràng.
Methods
Phương pháp
In this year 1 interim analysis of a phase 2, observer-blinded, randomized, active-controlled trial, we randomly assigned healthy adults 18 to 60 years of age in a 2:1 ratio to receive vYF or YF-VAX as a single vaccine injection on day 1. Neutralizing antibody titers were measured on day 29, month 6, and year 1. The primary analysis focused on the per-protocol population, which included participants with no history of yellow fever infection or vaccination and with no protocol deviations. Noninferiority would be shown if the lower limit of the two-sided 95% confidence interval of the between-group difference in the percentage of participants with seroconversion was greater than -5 percentage points on day 29.
Trong phân tích trung hạn năm 1 này của một thử nghiệm pha 2, mù người quan sát, ngẫu nhiên, kiểm chứng tích cực, chúng tôi phân nhóm ngẫu nhiên các tình nguyện viên khỏe mạnh từ 18 đến 60 tuổi theo tỷ lệ 2:1 để nhận vYF hoặc YF-VAX dưới dạng một mũi tiêm vắc-xin duy nhất vào ngày 1. Hiệu giá kháng thể trung hòa được đo vào ngày 29, tháng 6 và năm 1. Phân tích chính tập trung vào quần thể theo đề cương, bao gồm những người tham gia không có tiền sử nhiễm hoặc tiêm phòng sốt vàng và không có vi phạm đề cương. Tính không thua kém sẽ được chứng minh nếu giới hạn dưới của khoảng tin cậy 95% hai phía về sự khác biệt giữa các nhóm trong tỷ lệ phần trăm người tham gia có chuyển đổi huyết thanh lớn hơn -5 điểm phần trăm vào ngày 29.
Results
Kết quả
A total of 568 participants were enrolled: 382 in the vYF group and 186 in the YF-VAX group; 329 and 156 participants, respectively, were included in the per-protocol population for the noninferiority analysis. Seroconversion by day 29 occurred in 99.7% of participants receiving vYF and 99.4% of those receiving YF-VAX (difference, 0.3 percentage points; 95% confidence interval, -1.2 to 3.2, which met the criterion for noninferiority). Neutralizing antibody geometric mean titers were similar in the two vaccine groups, peaking on day 29 (in the vYF group, 1:2654 among participants with no history of yellow fever infection or vaccination and 1:1312 among participants with a history of yellow fever infection or vaccination; in the YF-VAX group, 1:3147 and 1:1079, respectively), then decreasing through 1 year after vaccination (in the vYF group, 1:401 among participants with no history of yellow fever infection or vaccination and 1:490 among participants with a history of yellow fever infection or vaccination; in the YF-VAX group, 1:548 and 1:646, respectively). No major safety concerns were identified. The safety profiles were similar in the two vaccine groups: solicited adverse events were reported by 208 of 367 participants (56.7%) in the vYF group and 113 of 185 participants (61.1%) in the YF-VAX group, and unsolicited adverse events were reported by 99 of 379 participants (26.1%) and 39 of 186 participants (21.0%), respectively.
Tổng cộng có 568 người tham gia đã được tuyển chọn: 382 người thuộc nhóm vYF và 186 người thuộc nhóm YF-VAX; lần lượt có 329 và 156 người tham gia được đưa vào quần thể theo đề cương cho phân tích không thua kém. Sự chuyển đổi huyết thanh vào ngày 29 đã xảy ra ở 99,7% người tham gia nhận vYF và 99,4% những người nhận YF-VAX (khác biệt 0,3 điểm phần trăm; khoảng tin cậy 95%, -1,2 đến 3,2, đáp ứng tiêu chuẩn về tính không thua kém). Hiệu giá trung bình nhân của kháng thể trung hòa là tương tự nhau ở cả hai nhóm vắc-xin, đạt đỉnh vào ngày 29 (ở nhóm vYF, là 1:2654 ở những người không có tiền sử nhiễm hoặc tiêm phòng sốt vàng và 1:1312 ở những người có tiền sử nhiễm hoặc tiêm phòng sốt vàng; ở nhóm YF-VAX, lần lượt là 1:3147 và 1:1079), sau đó giảm dần qua 1 năm sau khi tiêm chủng (ở nhóm vYF, là 1:401 ở những người không có tiền sử nhiễm hoặc tiêm phòng sốt vàng và 1:490 ở những người có tiền sử nhiễm hoặc tiêm phòng sốt vàng; ở nhóm YF-VAX, lần lượt là 1:548 và 1:646). Không có mối quan ngại lớn nào về tính an toàn được xác định. Đặc tính an toàn tương tự nhau ở hai nhóm vắc-xin: các biến cố có hại được chủ động thu thập được báo cáo bởi 208 trong số 367 người tham gia (56,7%) ở nhóm vYF và 113 trong số 185 người tham gia (61,1%) ở nhóm YF-VAX, và các biến cố có hại không chủ động được báo cáo lần lượt bởi 99 trong số 379 người tham gia (26,1%) và 39 trong số 186 người tham gia (21,0%).
Conclusions
Kết luận
In this trial, vYF had immunogenicity and safety profiles similar to those of YF-VAX. (Funded by Sanofi; ClinicalTrials.gov number,NCT04942210.).
Trong thử nghiệm này, vYF có đặc tính sinh miễn dịch và tính an toàn tương tự như YF-VAX. (Được tài trợ bởi Sanofi; số ClinicalTrials.gov, NCT04942210.).
Có thể bạn quan tâm
-
Nhiễm trùng vắc-xin Bacillus Calmette-Guérin lan tỏa tiến triển nhanh (Viêm hạch BCG) ở trẻ sơ sinh 3 tháng tuổi không có suy giảm miễn dịch: Báo cáo ca bệnh
Rapidly Progressive Disseminated Bacillus Calmette-Guérin Infection (BCGitis) in a 3-Month-Old Infant Without Immunodeficiency: A Case Report
-
Hiệu quả của các thời điểm khác nhau khi bắt đầu sử dụng caffeine nhằm cải thiện chức năng hô hấp ở trẻ sinh non
Effects of different timings of caffeine initiation to improve respiratory function in preterm infants
-
Tỷ lệ sống còn toàn bộ với relacorilant và nab-paclitaxel ở bệnh nhân ung thư buồng trứng kháng platinum (ROSELLA): một thử nghiệm kiểm chứng ngẫu nhiên pha 3
Overall survival with relacorilant and nab-paclitaxel in patients with platinum-resistant ovarian cancer (ROSELLA): a phase 3 randomised controlled trial
-
Những ngôi nhà được thiết kế tốt hơn có thể giảm ba bệnh nhi khoa lớn tới 44% – Thử nghiệm ở Tanzania
Better-designed homes could cut three major child diseases by up to 44% – Tanzania trial