Chủ đề lâm sàng
Hiệu quả của các thời điểm khác nhau khi bắt đầu sử dụng caffeine nhằm cải thiện chức năng hô hấp ở trẻ sinh non
Effects of different timings of caffeine initiation to improve respiratory function in preterm infants
Dontbemed Brief Review
Early caffeine initiation (within the first 72 hours of life) in preterm infants likely reduces chronic lung disease (CLD/BPD) and apnea compared to later initiation, though the incremental benefit of very early (within 2 hours) versus early (2–24 hours) administration appears minimal for most respiratory outcomes 1. The evidence base is summarized below across the key timing comparisons studied.
Bắt đầu sử dụng caffeine sớm (trong vòng 72 giờ đầu sau sinh) ở trẻ sinh non có khả năng làm giảm bệnh phổi mạn tính (CLD/BPD) và cơn ngừng thở so với việc bắt đầu muộn hơn, mặc dù lợi ích gia tăng của việc dùng thuốc rất sớm (trong vòng 2 giờ) so với sớm (2–24 giờ) dường như là tối thiểu đối với hầu hết các kết cục hô hấp 1. Nền tảng bằng chứng được tóm tắt dưới đây dựa trên các mốc so sánh thời gian chính đã được nghiên cứu.
Within 2 hours vs. 2–24 hours of life
Trong vòng 2 giờ so với 2–24 giờ sau sinh
A 2025 Cochrane systematic review found that caffeine initiated within 2 hours of life may result in little to no difference in CLD or duration of mechanical ventilation compared to initiation between 2 and 24 hours 1. This suggests that delivery room administration does not confer a clear additional respiratory benefit over initiation within the first day.
Một tổng quan hệ thống Cochrane năm 2025 cho thấy việc bắt đầu dùng caffeine trong vòng 2 giờ sau sinh có thể dẫn đến ít hoặc không có sự khác biệt về tỷ lệ mắc CLD hoặc thời gian thở máy so với việc bắt đầu trong khoảng từ 2 đến 24 giờ 1. Điều này gợi ý rằng việc sử dụng thuốc ngay tại phòng sinh không mang lại lợi ích hô hấp bổ sung rõ rệt nào so với việc bắt đầu trong vòng ngày đầu tiên.
Within 72 hours vs. after 72 hours of life
Trong vòng 72 giờ so với sau 72 giờ sau sinh
Caffeine initiated within 72 hours likely reduces CLD and apnea compared to initiation after 72 hours, though it may result in little to no difference in all-cause mortality, duration of mechanical ventilation, or hospital stay 1. A large meta-analysis of over 122,000 patients (mostly observational data) similarly found that early caffeine (0–2 days) was associated with reduced BPD (OR 0.70), IVH (OR 0.86), ROP (OR 0.80), PDA (OR 0.60), and late-onset sepsis (OR 0.84) 2. However, this meta-analysis noted a paradoxically higher mortality in the early group (OR 1.20), likely attributable to survival bias in observational studies favoring the late treatment group (sicker infants who survived long enough to receive late caffeine) 2.
Dùng caffeine trong vòng 72 giờ đầu có khả năng làm giảm CLD và cơn ngừng thở so với khi bắt đầu sau 72 giờ, mặc dù nó có thể dẫn đến ít hoặc không có sự khác biệt về tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân, thời gian thở máy hoặc thời gian nằm viện 1. Một phân tích gộp lớn trên hơn 122.000 bệnh nhân (chủ yếu là dữ liệu quan sát) tương tự cũng cho thấy sử dụng caffeine sớm (0–2 ngày) có liên quan đến việc giảm BPD (OR 0,70), xuất huyết não thất/IVH (OR 0,86), bệnh võng mạc ở trẻ sinh non/ROP (OR 0,80), còn ống động mạch/PDA (OR 0,60), và nhiễm trùng huyết muộn (OR 0,84) 2. Tuy nhiên, phân tích gộp này ghi nhận tỷ lệ tử vong cao hơn một cách nghịch lý ở nhóm dùng sớm (OR 1,20), điều này có khả năng là do sai lệch sống sót (survival bias) trong các nghiên cứu quan sát có xu hướng nghiêng về nhóm điều trị muộn (những trẻ nặng hơn nhưng đã sống đủ lâu để được dùng caffeine muộn) 2.
Prophylactic (early) vs. symptom-triggered initiation
Bắt đầu dự phòng (sớm) so với bắt đầu khi khởi phát triệu chứng
Caffeine initiated within 72 hours likely reduces CLD compared to waiting for symptomatic apnea before starting treatment, with little to no difference in mortality 1. A meta-analysis of 11 RCTs in very low birth weight infants confirmed that prophylactic caffeine significantly reduced apnea of prematurity (OR 0.31), BPD (OR 0.62), and PDA (OR 0.49) without increasing mortality, NEC, or IVH 3.
Dùng caffeine trong vòng 72 giờ đầu có khả năng làm giảm CLD so với việc chờ đợi cho đến khi xuất hiện triệu chứng ngừng thở mới bắt đầu điều trị, và có ít hoặc không có sự khác biệt về tỷ lệ tử vong 1. Một phân tích gộp từ 11 nghiên cứu RCT ở trẻ có cân nặng khi sinh cực thấp đã xác nhận rằng caffeine dự phòng làm giảm đáng kể cơn ngừng thở của trẻ sinh non (OR 0,31), BPD (OR 0,62) và PDA (OR 0,49) mà không làm tăng tỷ lệ tử vong, viêm ruột hoại tử (NEC) hoặc IVH 3.
During mechanical ventilation vs. at extubation
Trong khi đang thở máy so với tại thời điểm rút nội khí quản
Caffeine initiated while on mechanical ventilation may reduce CLD and substantially shorten the duration of mechanical ventilation compared to initiation at the time of extubation, though the evidence on mortality for this comparison is very uncertain 1.
Sử dụng caffeine trong khi đang thở máy có thể làm giảm CLD và rút ngắn đáng kể thời gian thở máy so với việc bắt đầu tại thời điểm rút nội khí quản, mặc dù bằng chứng về tỷ lệ tử vong đối với phép so sánh này vẫn rất chưa chắc chắn 1.
Observational data supporting day-of-life-1 initiation
Dữ liệu quan sát ủng hộ việc bắt đầu vào ngày đầu tiên sau sinh
A prospective multicenter cohort of 986 infants ≤32 weeks with RDS found that day-1 caffeine was associated with reduced need for invasive ventilation (71.3% vs. 83.2%), shorter mechanical ventilation duration (5 vs. 10.8 days), and lower odds of IVH and PDA, with comparable mortality and BPD rates 4.
Một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu đa trung tâm trên 986 trẻ ≤32 tuần bị hội chứng suy hô hấp (RDS) cho thấy việc dùng caffeine vào ngày đầu tiên sau sinh có liên quan đến giảm nhu cầu thở máy xâm lấn (71,3% so với 83,2%), thời gian thở máy ngắn hơn (5 ngày so với 10,8 ngày), và giảm tỷ lệ gặp IVH lẫn PDA, trong khi tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc BPD là tương đương nhau 4.
Key caveats
Các lưu ý quan trọng
The overall certainty of evidence ranges from low to moderate across comparisons, with most data derived from small RCTs and observational studies 1 5. The standard dosing regimen used across studies is a loading dose of 20 mg/kg caffeine citrate followed by a maintenance dose of 5–10 mg/kg/day 6. No studies have compared caffeine initiation in infants with minimal symptoms versus those with moderate-to-severe apnea, which remains an important evidence gap 1. Several ongoing trials may further clarify optimal timing 1.
Độ tin cậy tổng thể của bằng chứng dao động từ thấp đến trung bình giữa các phép so sánh, với hầu hết dữ liệu bắt nguồn từ các nghiên cứu RCT quy mô nhỏ và nghiên cứu quan sát 1 5. Phác đồ liều tiêu chuẩn được sử dụng trong các nghiên cứu là liều nạp 20 mg/kg caffeine citrate, tiếp theo là liều duy trì 5–10 mg/kg/ngày 6. Chưa có nghiên cứu nào so sánh việc bắt đầu dùng caffeine ở trẻ có triệu chứng tối thiểu so với trẻ có cơn ngừng thở từ trung bình đến nặng, đây vẫn là một khoảng trống bằng chứng quan trọng 1. Một vài thử nghiệm đang diễn ra có thể làm rõ hơn thời điểm tối ưu 1.
In summary, the strongest signal favoring early initiation is the reduction in CLD/BPD and apnea when caffeine is started within 72 hours of life, whether compared to later initiation or symptom-triggered therapy. Very early (within 2 hours) administration does not appear to add further respiratory benefit over initiation within the first 24 hours.
Tóm lại, tín hiệu mạnh mẽ nhất ủng hộ việc bắt đầu sớm là sự suy giảm tỷ lệ mắc CLD/BPD và cơn ngừng thở khi caffeine được bắt đầu trong vòng 72 giờ đầu sau sinh, dù là so với việc bắt đầu muộn hơn hay liệu pháp kích hoạt theo triệu chứng. Việc sử dụng rất sớm (trong vòng 2 giờ) dường như không mang lại thêm lợi ích hô hấp nào so với việc bắt đầu trong vòng 24 giờ đầu tiên.
Reference
- Borys, F., Wróblewska-Seniuk, K., Fiander, M., et al. (2025). Indications and timings for caffeine initiation in preterm infants. The Cochrane Database of Systematic Reviews.
- Karlinski Vizentin, V., Madeira de Sá Pacheco, I., Fahel Vilas Bôas Azevêdo, T., Florêncio de Mesquita, C., & Alvim Pereira, R. (2023). Early versus late caffeine therapy administration in preterm neonates: An updated systematic review and meta-analysis. Neonatology.
- Miao, Y., Liu, W., Zhao, S., et al. (2023). Effect of prophylactic caffeine in the treatment of apnea in very low birth weight infants: A meta-analysis. The Journal of Maternal-Fetal & Neonatal Medicine.
- Borszewska-Kornacka, M. K., Hożejowski, R., Rutkowska, M., & Lauterbach, R. (2017). Shifting the boundaries for early caffeine initiation in neonatal practice: Results of a prospective, multicenter study on very preterm infants with respiratory distress syndrome. PloS One.
- Pakvasa, M. A., Saroha, V., & Patel, R. M. (2018). Optimizing caffeine use and risk of bronchopulmonary dysplasia in preterm infants: A systematic review, meta-analysis, and application of grading of recommendations assessment, development, and evaluation methodology. Clinics in Perinatology.
- Bruschettini, M., Brattström, P., Russo, C., et al. (2023). Caffeine dosing regimens in preterm infants with or at risk for apnea of prematurity. The Cochrane Database of Systematic Reviews.
Chủ đề Lâm sàng
-
Phẫu thuật nội soi so với phẫu thuật mở trong điều trị thoát vị bẹn ở trẻ em
Laparoscopic versus open repair for pediatric inguinal hernia
-
Lợi ích và tác hại của các loại thuốc từ cần sa đối với chứng đau thần kinh mạn tính ở người lớn
Benefits and harms of cannabis-based medicines for chronic neuropathic pain in adults
-
Theo dõi liên tục bằng quang phổ cận hồng ngoại (NIRS) não ở trẻ sinh rất non: Lợi ích và tác hại
Continuous cerebral near‐infrared spectroscopy (NIRS) monitoring monitoring in very preterm infants: Benefits and harms
Bằng chứng mới
Ca lâm sàng
-
Đau thượng vị không điển hình phát hiện nhiễm trùng niệu tắc nghẽn ở thận phân thuỳ
Atypical Epigastric Pain Reveals Obstructive Urosepsis in a Horseshoe Kidney
-
Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân nguy kịch có biểu hiện thần kinh do virus Chikungunya
Clinical Characterization of Critically Ill Patients With Neurological Manifestation in Chikungunya Virus
-
Tiểu đêm ở người lớn béo phì
Nocturnal Enuresis in an Adult With Obesity
Y tế thế giới
-
‘Detox kỹ thuật số’ là gì và liệu nó có giúp tôi khỏe hơn không?
What is a ‘digital detox’ and will it make me healthier?
-
Tòa án Tối cao duy trì quyền tiếp cận mifepristone qua dịch vụ y tế từ xa – ít nhất là hiện tại
Supreme Court preserves access to mifepristone via telehealth – at least for now
-
Bạn biết tập thể dục tốt cho bạn – vậy tại sao việc thực hiện nó lại khó khăn đến vậy?
You know exercise is good for you – so why is it so hard to put it into practice?