Bằng chứng mới
Asundexian trong dự phòng đột quỵ thứ phát
Asundexian for Secondary Stroke Prevention
Quick Read
This phase 3 trial evaluated the efficacy and safety of asundexian, an activated factor XI inhibitor, when added to standard antiplatelet therapy for secondary prevention within 72 hours of a noncardioembolic ischemic stroke or high-risk TIA. Among 12,327 randomized patients, asundexian at a daily dose of 50 mg significantly reduced the incidence of recurrent ischemic stroke (6.2% vs. 8.4%) and composite major cardiovascular events compared to placebo. Importantly, this therapeutic benefit was achieved without a significant increase in major bleeding (1.9% vs. 1.7%), demonstrating a favorable safety profile. The clinical takeaway is that factor XI inhibition via asundexian provides an effective and safe antithrombotic escalation strategy, significantly lowering recurrent ischemic events without introducing the heightened bleeding risks traditionally associated with combining conventional anticoagulants and antiplatelet agents.
Thử nghiệm giai đoạn 3 này đánh giá hiệu quả và độ an toàn của asundexian, một chất ức chế yếu tố XI hoạt hóa, khi được bổ sung vào liệu pháp kháng tiểu cầu tiêu chuẩn để dự phòng thứ phát trong vòng 72 giờ sau đột quỵ thiếu máu cục bộ không do nguyên nhân từ tim hoặc TIA nguy cơ cao. Trong số 12.327 bệnh nhân được phân nhóm ngẫu nhiên, asundexian với liều 50 mg hằng ngày làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc đột quỵ thiếu máu cục bộ tái phát (6,2% so với 8,4%) và các biến cố tim mạch lớn gộp so với giả dược. Điều quan trọng là lợi ích điều trị này đạt được mà không làm tăng đáng kể tình trạng chảy máu nghiêm trọng (1,9% so với 1,7%), chứng minh một hồ sơ an toàn thuận lợi. Điểm mấu chốt lâm sàng là việc ức chế yếu tố XI thông qua asundexian cung cấp một chiến lược tăng cường kháng huyết khối hiệu quả và an toàn, làm giảm đáng kể các biến cố thiếu máu cục bộ tái phát mà không gây ra các nguy cơ chảy máu nâng cao vốn thường liên quan đến việc phối hợp các thuốc chống đông truyền thống với các chất kháng tiểu cầu.
Background
Bối cảnh
Patients with noncardioembolic ischemic stroke or transient ischemic attack (TIA) are at risk for recurrent stroke. Low factor XI levels are associated with a reduced risk of ischemic stroke. Asundexian inhibits activated factor XI. Whether the addition of asundexian to antiplatelet therapy would be superior to antiplatelet therapy alone for the secondary prevention of ischemic stroke is unclear.
Bệnh nhân đột quỵ thiếu máu cục bộ không do nguyên nhân từ tim hoặc cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua (TIA) có nguy cơ bị đột quỵ tái phát. Nồng độ yếu tố XI thấp có liên quan đến việc giảm nguy cơ đột quỵ thiếu máu cục bộ. Asundexian ức chế yếu tố XI hoạt hóa. Liệu việc bổ sung asundexian vào liệu pháp kháng tiểu cầu có ưu việt hơn liệu pháp kháng tiểu cầu đơn thuần trong dự phòng thứ phát đột quỵ thiếu máu cục bộ hay không vẫn chưa rõ ràng.
Methods
Phương pháp
In this phase 3, double-blind trial, we randomly assigned patients within 72 hours after the onset of a noncardioembolic ischemic stroke or high-risk TIA to receive asundexian (50 mg once daily) or placebo, in addition to planned dual or single antiplatelet therapy. Patients had at least one of the following: a nonlacunar infarct on imaging, a history of atherosclerosis, or evidence of atherosclerotic plaque at any location on cerebrovascular imaging. The primary efficacy outcome was ischemic stroke. The composite of death from cardiovascular causes, myocardial infarction, or stroke was a key secondary outcome. The primary safety outcome was major bleeding.
Trong thử nghiệm giai đoạn 3, mù đôi này, chúng tôi phân ngẫu nhiên các bệnh nhân trong vòng 72 giờ sau khi khởi phát đột quỵ thiếu máu cục bộ không do nguyên nhân từ tim hoặc TIA nguy cơ cao để dùng asundexian (50 mg một lần mỗi ngày) hoặc giả dược, bên cạnh liệu pháp kháng tiểu cầu kép hoặc đơn trị liệu đã được lên kế hoạch. Bệnh nhân có ít nhất một trong các đặc điểm sau: nhồi máu không phải ổ khuyết trên chẩn đoán hình ảnh, tiền sử xơ vữa động mạch, hoặc có bằng chứng về mảng xơ vữa động mạch tại bất kỳ vị trí nào trên hình ảnh mạch máu não. Kết cục hiệu quả chính là đột quỵ thiếu máu cục bộ. Kết cục gộp bao gồm tử vong do nguyên nhân tim mạch, nhồi máu cơ tim, hoặc đột quỵ là kết cục phụ quan trọng. Kết cục an toàn chính là chảy máu nghiêm trọng.
Results
Kết quả
Among 12,327 patients who underwent randomization (6162 to the asundexian group and 6165 to the placebo group), the incidence of ischemic stroke was lower in the asundexian group than in the placebo group (6.2% vs. 8.4%; cause-specific hazard ratio, 0.74; 95% confidence interval [CI], 0.65 to 0.84; P<0.001). The incidence of the composite of death from cardiovascular causes, myocardial infarction, or stroke was lower in the asundexian group than in the placebo group. The incidence of major bleeding was similar in the asundexian group and the placebo group (1.9% and 1.7%, respectively; cause-specific hazard ratio, 1.10; 95% CI, 0.85 to 1.44). The incidence of adverse events was 69.3% in the asundexian group and 70.1% in the placebo group; the incidence of serious adverse events was 19.2% and 19.5%, respectively.
Trong số 12.327 bệnh nhân được phân nhóm ngẫu nhiên (6162 thuộc nhóm asundexian và 6165 thuộc nhóm giả dược), tỷ lệ mắc đột quỵ thiếu máu cục bộ ở nhóm asundexian thấp hơn ở nhóm giả dược (6,2% so với 8,4%; tỷ số nguy cơ đặc hiệu theo nguyên nhân, 0,74; khoảng tin cậy [CI] 95%, 0,65 đến 0,84; P<0,001). Tỷ lệ mắc kết cục gộp bao gồm tử vong do nguyên nhân tim mạch, nhồi máu cơ tim, hoặc đột quỵ ở nhóm asundexian thấp hơn ở nhóm giả dược. Tỷ lệ chảy máu nghiêm trọng là tương đương giữa nhóm asundexian và nhóm giả dược (lần lượt là 1,9% và 1,7%; tỷ số nguy cơ đặc hiệu theo nguyên nhân, 1,10; CI 95%, 0,85 đến 1,44). Tỷ lệ gặp biến cố bất lợi là 69,3% ở nhóm asundexian và 70,1% ở nhóm giả dược; tỷ lệ gặp biến cố bất lợi nghiêm trọng lần lượt là 19,2% và 19,5%.
Conclusions
Kết luận
Among patients with noncardioembolic ischemic stroke or high-risk TIA treated with antiplatelet therapy, asundexian at a daily dose of 50 mg resulted in lower risks of ischemic stroke and major cardiovascular events than placebo, without a higher risk of major bleeding. (Funded by Bayer; OCEANIC-STROKE ClinicalTrials.gov number,NCT05686070.).
Ở những bệnh nhân đột quỵ thiếu máu cục bộ không do nguyên nhân từ tim hoặc TIA nguy cơ cao đang được điều trị bằng liệu pháp kháng tiểu cầu, asundexian với liều 50 mg hằng ngày giúp làm giảm nguy cơ đột quỵ thiếu máu cục bộ và các biến cố tim mạch lớn so với giả dược, mà không làm tăng nguy cơ chảy máu nghiêm trọng. (Được tài trợ bởi Bayer; số OCEANIC-STROKE ClinicalTrials.gov, NCT05686070).
Có thể bạn quan tâm
-
Tự sát bằng nhiều phát súng vào ngực trong một vụ án giết người – tự tử: Một trường hợp bất thường
Thoracic Multiple-Gunshot Suicide in a Homicide–Suicide Incident: An Unusual Case
-
Hiệu quả của điều trị bằng thuốc so với giả dược hoặc không điều trị trong kiểm soát tình trạng mệt mỏi sau chấn thương sọ não (TBI)
Effects of pharmacological treatment compared with placebo or no treatment for fatigue management after traumatic brain injury (TBI)
-
Thử nghiệm ngẫu nhiên về việc sử dụng Prednisolone bổ trợ trong điều trị bệnh Kawasaki
Randomized Trial of Adjunctive Prednisolone for Kawasaki Disease
-
Tại sao bạch hầu, ho gà và sởi lại tái xuất hiện ở Úc
Why diphtheria, whooping cough and measles have come back in Australia