Bệnh nhân này có bị quá tải thể tích không?: Khám lâm sàng hợp lý
Does This Patient Have Volume Overload?: The Rational Clinical Examination
Đừng để vàng rơi!
Summary: This systematic review evaluated the diagnostic accuracy of clinical, radiographic, and laboratory findings for assessing intravascular volume overload in nonintubated patients. Analysis of 40 studies indicated that physical signs like jugular venous distention and lower extremity edema, alongside chest radiography showing vascular congestion, significantly increase the likelihood of volume overload. Point-of-care ultrasonography assessment of pulmonary B-lines and inferior vena cava collapsibility also demonstrated high diagnostic utility. Ultimately, a plasma brain-type natriuretic peptide level of 100 ng/mL or higher served as the most effective single test for confirming this condition.
Tóm tắt: Tổng quan hệ thống này đã đánh giá độ chính xác chẩn đoán của các phát hiện lâm sàng, X-quang và xét nghiệm để xác định tình trạng quá tải thể tích trong lòng mạch ở bệnh nhân không đặt nội khí quản. Phân tích từ 40 nghiên cứu chỉ ra rằng các dấu hiệu thực thể như tĩnh mạch cổ nổi và phù chi dưới, cùng với hình ảnh sung huyết mạch máu trên X-quang ngực, làm tăng đáng kể khả năng quá tải thể tích. Đánh giá các đường B-line phổi và chỉ số xẹp tĩnh mạch chủ dưới bằng siêu âm tại vòi cũng cho thấy giá trị chẩn đoán cao. Cuối cùng, nồng độ peptide lợi niệu tuýp B trong huyết tương từ 100 ng/mL trở lên là xét nghiệm đơn lẻ hiệu quả nhất để xác định tình trạng này.
Clinical bottom line: Intravascular volume overload is best confirmed by a BNP level of 100 ng/mL or higher and vascular congestion on chest radiography, whereas it can be reliably excluded by the absence of pulmonary B-lines on point-of-care ultrasound or a BNP level under 100 ng/mL.
Mấu chốt lâm sàng: Tình trạng quá tải thể tích trong lòng mạch được xác định tốt nhất bằng nồng độ BNP từ 100 ng/mL trở lên và tình trạng sung huyết mạch máu trên X-quang ngực, trong khi tình trạng này có thể được loại trừ một cách đáng tin cậy bằng việc không có các đường B-line phổi trên siêu âm tại vòi hoặc nồng độ BNP dưới 100 ng/mL.
Importance
Tầm quan trọng
Accurate assessment of intravascular volume facilitates management decisions about fluid management in patients with volume overload.
Đánh giá chính xác thể tích trong lòng mạch tạo điều kiện thuận lợi cho các quyết định xử trí về quản lý dịch ở bệnh nhân quá tải thể tích.
Objective
Mục tiêu
To identify the most accurate clinical examination, radiographic, and laboratory findings for assessing volume overload in nonintubated patients.
Nhằm xác định các phát hiện khám lâm sàng, X-quang và xét nghiệm chính xác nhất để đánh giá tình trạng quá tải thể tích ở bệnh nhân không đặt nội khí quản.
Data sources and study selection
Nguồn dữ liệu và lựa chọn nghiên cứu
MEDLINE was searched (1946 to January 6, 2026) to identify peer-reviewed English-language studies about the diagnostic accuracy of the clinical examination of spontaneously breathing patients with intravascular volume overload.
MEDLINE đã được tìm kiếm (từ năm 1946 đến ngày 6 tháng 1 năm 2026) để xác định các nghiên cứu bằng tiếng Anh đã qua bình duyệt về độ chính xác chẩn đoán của việc khám lâm sàng trên những bệnh nhân tự thở có tình trạng quá tải thể tích trong lòng mạch.
Data extraction and synthesis
Trích xuất và tổng hợp dữ liệu
Three authors independently extracted data for each finding and calculated sensitivity, specificity, and likelihood ratios (LRs). A 2-level mixed logistic regression model was used to pool estimates.
Ba tác giả đã trích xuất dữ liệu một cách độc lập cho từng phát hiện và tính toán độ nhạy, độ đặc hiệu cũng như tỷ số khả dĩ (LR). Mô hình hồi quy logistic hỗn hợp 2 cấp đã được sử dụng để gộp các ước tính.
Results
Kết quả
Forty studies, involving 11 490 adult patients, were included, with a prevalence of volume overload of 35% to 69%. Thirty-three of those studies evaluated patients with dyspnea. Prevalence of volume overload was more likely when the physical examination revealed jugular venous distention with the highest point of pulsation more than 3 cm in a vertical line above the sternal angle (LR, 4.1 [95% CI, 2.9-5.6]; specificity, 92%), lower extremity edema (LR, 2.2 [95% CI, 1.5-3.1]; specificity, 80%), or crackles on auscultation (LR, 2.7 [95% CI, 1.7-4.5]; specificity, 81%). Vascular congestion on chest radiography increased the likelihood of intravascular volume overload (LR, 5.9 [95% CI, 2.9-12.0]; specificity, 91%). Point-of-care ultrasonography that identified bilateral pulmonary B-lines suggested volume overload (LR, 4.0 [95% CI, 2.6-6.1]; specificity, 77%), and absence of pulmonary B-lines made volume overload unlikely (LR, 0.09 [95% CI, 0.04-0.23]; sensitivity, 93%). Inferior vena cava collapsibility index of less than 50% increased the likelihood of volume overload (LR, 3.9 [95% CI, 2.5-6.1]; specificity, 79%), and a collapsibility index of at least 50% made it less likely (LR, 0.22 [95% CI, 0.11-0.45]; sensitivity, 82%). Point-of-care ultrasonographic measurement of jugular venous pressure (JVP; >8 cm) also increased the likelihood of volume overload (LR, 2.8 [95% CI, 2.2-3.5]; specificity, 71%), although JVP of 8 cm or less identified patients less likely to have volume overload (LR, 0.26 [95% CI, 0.20-0.33]; sensitivity, 81%). A plasma brain-type natriuretic peptide (BNP) level of 100 ng/mL or higher was the single best test to identify those most likely to have volume overload (LR, 6.9 [95% CI, 2.4-20.4]; specificity, 87%), and a normal value made it less likely (LR, 0.14 [95% CI, 0.08-0.24]; sensitivity, 87%).
Bốn mươi nghiên cứu, bao gồm 11.490 bệnh nhân trưởng thành, đã được đưa vào với tỷ lệ lưu hành quá tải thể tích từ 35% đến 69%. Ba mươi ba trong số các nghiên cứu đó đã đánh giá những bệnh nhân bị khó thở. Tỷ lệ lưu hành quá tải thể tích có khả năng xảy ra cao hơn khi khám thực thể phát hiện tình trạng tĩnh mạch cổ nổi với điểm đập cao nhất cao hơn 3 cm theo đường thẳng đứng phía trên góc ức (LR, 4,1 [KTC 95%, 2,9-5,6]; độ đặc hiệu, 92%), phù chi dưới (LR, 2,2 [KTC 95%, 1,5-3,1]; độ đặc hiệu, 80%), hoặc rales khi nghe phổi (LR, 2,7 [KTC 95%, 1,7-4,5]; độ đặc hiệu, 81%). Tình trạng sung huyết mạch máu trên X-quang ngực làm tăng khả năng quá tải thể tích trong lòng mạch (LR, 5,9 [KTC 95%, 2,9-12,0]; độ đặc hiệu, 91%). Siêu âm tại vòi phát hiện các đường B-line phổi ở cả hai bên gợi ý tình trạng quá tải thể tích (LR, 4,0 [KTC 95%, 2,6-6,1]; độ đặc hiệu, 77%), và việc không có các đường B-line phổi khiến tình trạng quá tải thể tích ít có khả năng xảy ra (LR, 0,09 [KTC 95%, 0,04-0,23]; độ nhạy, 93%). Chỉ số xẹp của tĩnh mạch chủ dưới dưới 50% làm tăng khả năng quá tải thể tích (LR, 3,9 [KTC 95%, 2,5-6,1]; độ đặc hiệu, 79%), và chỉ số xẹp từ 50% trở lên khiến tình trạng này ít có khả năng xảy ra hơn (LR, 0,22 [KTC 95%, 0,11-0,45]; độ nhạy, 82%). Phép đo áp lực tĩnh mạch cổ (JVP; >8 cm) bằng siêu âm tại vòi cũng làm tăng khả năng quá tải thể tích (LR, 2,8 [KTC 95%, 2,2-3,5]; độ đặc hiệu, 71%), mặc dù JVP từ 8 cm trở xuống giúp xác định những bệnh nhân ít có khả năng bị quá tải thể tích hơn (LR, 0,26 [KTC 95%, 0,20-0,33]; độ nhạy, 81%). Nồng độ peptide lợi niệu tuýp B (BNP) trong huyết tương từ 100 ng/mL trở lên là xét nghiệm đơn lẻ tốt nhất để xác định những người có khả năng bị quá tải thể tích cao nhất (LR, 6,9 [KTC 95%, 2,4-20,4]; độ đặc hiệu, 87%), và một giá trị bình thường khiến tình trạng này ít có khả năng xảy ra hơn (LR, 0,14 [KTC 95%, 0,08-0,24]; độ nhạy, 87%).
Conclusions and relevance
Kết luận và ý nghĩa chuyên môn
A BNP level of 100 ng/mL or higher and presence of vascular congestion on chest radiography may be the most useful tests to identify patients with volume overload. Absence of pulmonary B-lines using point-of-care ultrasonography or BNP levels of less than 100 ng/mL may be most useful to exclude volume overload.
Nồng độ BNP từ 100 ng/mL trở lên và sự hiện diện của tình trạng sung huyết mạch máu trên X-quang ngực có thể là những xét nghiệm hữu ích nhất để xác định bệnh nhân quá tải thể tích. Việc không có các đường B-line phổi khi sử dụng siêu âm tại vòi hoặc nồng độ BNP dưới 100 ng/mL có thể hữu ích nhất để loại trừ tình trạng quá tải thể tích.
Có thể bạn quan tâm
-
Phát hiện dị dạng động tĩnh mạch phế quản trước khi triệt đốt bằng catheter đối với cuồng nhĩ và rung nhĩ kịch phát: Báo cáo ca lâm sàng
Bronchial Arteriovenous Malformation Detection Prior to Catheter Ablation for Paroxysmal Atrial Flutter and Fibrillation: A Case Report
Alexandra Arvanitaki; Marios Georgios Bantidos; Theodora Zaglavara; Lydia Kalogeropoulou; Athanasios Samaras; Athina Nasoufidou; Efstratios Karagiannidis; Georgios Stavropoulos; Apostolos Tzikas; Nikolaos Fragakis. American Journal of Case Reports. doi: 10.12659/AJCR.949879. Open access.
-
Một kháng thể liên hợp oligonucleotide cho bệnh loạn trương lực cơ tuýp 1
An Antibody-Oligonucleotide Conjugate for Myotonic Dystrophy Type 1
N Engl J Med. 2026 Feb 19;394(8):763-772. doi: 10.1056/NEJMoa2407326.
-
Người Úc phải chờ 12 tháng để được chăm sóc người cao tuổi – và nguồn tài trợ ngân sách mới nhất khó có thể thay đổi điều đó
Australians wait 12 months for aged care – and the latest budget funding is unlikely to change that